Hotline 24/7
08983-08983

Dinh dưỡng trong điều trị các bệnh lý rối loạn hấp thu

Phiên 2 của Hội nghị Dinh dưỡng TPHCM lần XII năm 2024 do LCH Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM tổ chức đã đề cập đến tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với các bệnh lý rối loạn hấp thu thường gặp như suy ruột mạn tính, hội chứng kém hấp thu, đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò của chất xơ đối với hệ tiêu hóa nói riêng và với sức khỏe nói chung.

Suy ruột mạn tính có thể có các biến chứng gây tàn tật nặng, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng

Mở đầu báo cáo “Dinh dưỡng trong suy ruột mạn tính: Cập nhật khuyến nghị”,  TS.BS Nguyễn Trọng Hưng - Trưởng phòng Tổ chức hành chính, Viện Dinh dưỡng Quốc gia nhận xét: “Suy ruột mạn tính ở người trưởng thành chưa được quan tâm đúng mực”.

Suy ruột được định nghĩa là tình trạng “giảm chức năng ruột dưới mức tối thiểu cần thiết để hấp thụ các chất dinh dưỡng đa lượng và/hoặc nước và chất điện giải, do đó cần phải bổ sung qua đường tĩnh mạch để duy trì sức khỏe và/hoặc tăng trưởng”.

Suy ruột mạn tính xảy ra khi mắc viêm ruột kéo dài hàng tháng hoặc hàng năm, thường xuất hiện trên các bệnh lý lành tính nhưng mức độ trầm trọng hoặc xuất hiện ở giai đoạn cuối của ung thư ở vùng ổ bụng, vùng chậu.

Ước tính có khoảng từ 5-80 trường hợp bị suy ruột mạn tính trên 1.000.000 dân số ở quốc gia châu Âu và căn bệnh này được đưa vào danh sách các bệnh hiếm gặp của châu lục.

Sự hiếm gặp của căn bệnh này đã cản trở nhận thức về nó cả trong và ngoài lĩnh vực y tế. Khái niệm “suy ruột mạn tính” được phát triển vào năm 1981, mặc dù những ca báo cáo lâm sàng đầu tiên đã được mô tả vào năm 1970.

Hiệp hội Dinh dưỡng và Chuyển hóa Lâm sàng châu Âu (ESPEN) gần đây đã giúp phát triển chủ đề về suy ruột ở người trưởng thành bằng cách đưa ra các khuyến nghị về định nghĩa và phân loại suy ruột, đồng thời xuất bản một bài báo về quan điểm suy ruột cấp tính cùng với hướng dẫn về suy ruột mạn tính.

ESPEN cũng đã tổ chức nhiều hội thảo để thúc đẩy sự quan tâm của cán bộ y tế, người bệnh và cộng đồng về vấn đề này, bên cạnh đó còn hỗ trợ các cuộc điều tra quốc tế về suy ruột mạn tính thông qua cơ sở dữ liệu có cấu trúc chuyên dụng.

TS.BS Nguyễn Trọng Hưng - Trưởng phòng Tổ chức hành chính, Viện Dinh dưỡng Quốc gia nhận định, suy ruột mạn tính ở người trưởng thành chưa được quan tâm đúng mực

TS.BS Nguyễn Trọng Hưng cho biết, có đến 81% đồng thuận rằng phải có đủ hai tiêu chuẩn đồng thời để chẩn đoán suy ruột. Thứ nhất là “giảm hấp thu các chất dinh dưỡng đa lượng và/hoặc nước và chất điện giải do mất chức năng đường ruột” và hai là “cần nuôi dưỡng tĩnh mạch và/hoặc tăng trưởng”.

Việc “phân loại chức năng của suy ruột” dựa trên sự khởi phát, tiêu chí chuyển hóa và kết quả mong đợi, cụ thể:

- Loại I - Suy ruột cấp tính: Tình trạng cấp tính, ngắn hạn và thường tự giới hạn; đây là một đặc điểm chung, xảy ra ở vùng ngoại vi bối cảnh tích cực sau phẫu thuật vùng bụng và/hoặc liên quan đến các bệnh hiểm nghèo, trong đó bệnh nhân cần nuôi dưỡng tĩnh mạch trong khoảng thời gian vài ngày hoặc vài tuần.

- Loại II – Suy ruột cấp tính kéo dài: Tình trạng nguy kịch kéo dài, thường ở những bệnh nhân chuyển hóa không ổn định, cần được chăm sóc đa ngành phức tạp và nuôi dưỡng tĩnh mạch trong thời gian vài tuần hoặc vài tháng.

- Loại III - Suy ruột mạn tính: Tình trạng mãn tính ở những bệnh nhân ổn định về chuyển hóa, cần nuôi dưỡng tĩnh mạch trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Những bệnh nhân này và/hoặc người thân của họ thường được đào tạo, để trở nên độc lập trong việc quản lý nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà.

Về tiêu chí phân loại suy ruột, 100% đồng thuận cho rằng cần dựa trên cơ chế sinh lý bệnh và căn bệnh tiềm ẩn mà suy ruột bắt nguồn và 95% đồng thuận về việc cơ chế sinh lý bệnh của suy ruột được phân loại thành loại hội chứng ruột ngắn, rối loạn nhu động ruột, lỗ rò đường ruột, tắc nghẽn cơ học đường ruột hoặc bệnh niêm mạc ruột non lan rộng.

100% đồng thuận với quan điểm căn bệnh tiềm ẩn mà suy ruột bắt nguồn phải được phân loại theo mã ICD và cũng phải được phân biệt rõ ràng với cơ chế sinh lý bệnh.

Cuối cùng, việc phân loại dựa trên nhu cầu của người bệnh về năng lượng cũng như lượng nuôi dưỡng tĩnh mạch được truyền đạt mức khuyến nghị B với tỷ lệ đồng thuận 96%.

Trong điều trị, 100% đồng thuận nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà nên được chỉ định là liệu pháp điều trị chính và cứu sống cho những bệnh nhân mắc suy ruột mạn tính. Mức khuyến nghị GPP với 96% ý kiến đồng ý với việc suy ruột mạn tính nên đến các bệnh viện đa khoa có chuyên môn về cả điều trị nội khoa và phẫu thuật, để tối đa hóa cơ hội cai, ngăn ngừa thất bại nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà và đảm bảo đánh giá kịp thời khả năng ghép ruột.

Báo cáo của TS.BS Nguyễn Trọng Hưng cập nhật các đồng thuận trong điều trị suy ruột mạn tính

Trong nhiều nghiên cứu hồi cứu đơn lẻ và đa trung tâm và theo dõi sau 5 năm của ESPEN trên các bệnh nhân nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà điều trị suy ruột mạn tính do bệnh lành tính cho thấy, suy ruột mạn tính do bệnh lành tính có khả năng sống sót cao (khoảng 80% ở người lớn và 90% ở trẻ em 5 tuổi). Việc cai nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà sau một đến hai năm có thể xảy ra ở 20-50% bệnh nhân, tùy thuộc vào các đặc điểm của bệnh suy ruột mạn tính.

Ở những bệnh nhân mắc bệnh SBS (Short Bowel Syndrome - Hội chứng ruột ngắn), suy ruột mạn tính có thể hồi phục do sự thích ứng của đường ruột và/hoặc các chương trình phục hồi chức năng đường ruột dựa trên các phương pháp điều trị nội khoa và phẫu thuật.

Theo TS.BS Nguyễn Trọng Hưng, việc cai nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà đã được báo cáo xảy ra ở khoảng 50% người lớn và lên tới 73% trẻ em và nhiều khả năng xảy ra ở bệnh nhân hội chứng ruột ngắn có một phần hoặc toàn bộ đại tràng liên tục.

Việc cai hoàn toàn nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà ở bệnh nhân mắc hội chứng ruột ngắn tương đối khó xảy ra (chưa đến 10%) sau hai đến ba năm tính từ lần cắt bỏ ruột gần nhất.

Ở những bệnh nhân tắc nghẽn đường ruột mạn tính, khả năng đảo ngược suy ruột mạn tính thấp hơn so với báo cáo ở hội chứng ruột ngắn, xảy ra ở 25-50% người lớn và 25-38% trẻ em. Phục hồi đường ruột và cai máy khỏi nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà trong suy ruột mạn tính do lỗ dò ruột chủ yếu phụ thuộc vào khả năng thực hiện phẫu thuật tái tạo để phục hồi tính liên tục của ruột và bề mặt hấp thu của ruột. Khả năng phục hồi của suy ruột mạn tính do bệnh niêm mạc lan rộng hiếm khi xảy ra.

TS.BS Nguyễn Trọng Hưng trình bày: “Nhìn chung, khoảng 2/3 số bệnh nhân có thể đạt được sự phục hồi chức năng và xã hội một phần hoặc toàn bộ cũng như cuộc sống gia đình tốt đẹp. Mặt khác, suy ruột mạn tính có thể có các biến chứng gây tàn tật nặng và làm suy giảm chất lượng cuộc sống, thậm chí đe dọa tính mạng bản thân”.

Theo chuyên gia, việc điều trị suy ruột mạn tính phụ thuộc vào các kỹ thuật công nghệ cao và chuyên môn sâu, đa ngành. Khả năng hồi phục, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cũng như khả năng sống sót phụ thuộc rất nhiều vào sự chăm sóc và hỗ trợ từ đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm.

Bệnh nhân mắc suy ruột mạn tính không thể đảo ngược được xác định sẽ cần nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà suốt đời hoặc cần ghép ruột. Về độ an toàn và hiệu quả, nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà được coi là phương pháp điều trị chính cho suy ruột, trong khi ghép ruột chủ yếu dành cho những bệnh nhân có nguy cơ tử vong do các biến chứng đe dọa tính mạng liên quan đến nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà hoặc bệnh đường tiêu hóa tiềm ẩn.

100% đồng thuận mạnh mẽ đồng ý rằng mục tiêu của chương trình nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà bao gồm việc cung cấp liệu pháp dựa trên bằng chứng, ngăn ngừa các biến chứng liên quan đến nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà như nhiễm trùng liên quan đến đặt đường truyền trung tâm và các biến chứng chuyển hóa, đồng thời đảm bảo chất lượng sống tốt nhất cho người bệnh.

Cần cung cấp kế hoạch hỗ trợ dinh dưỡng phù hợp, an toàn, hiệu quả và phù hợp cho từng cá nhân khi xuất viện. Đồng thời, phải được giám sát và đánh giá thường xuyên bởi nhóm hỗ trợ dinh dưỡng (NST) của bệnh viện, bác sĩ đa khoa và chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác.

Tỷ lệ biến chứng nặng liên quan đến nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân là những chỉ số đánh giá hiệu quả của nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà.

TS.BS Nguyễn Trọng Hưng kết luận: “Hầu hết các khuyến nghị đều được sự đồng thuận mạnh mẽ từ các chuyên gia. Điều trị suy ruột mạn tính đòi hỏi các kỹ thuật công nghệ cao, phức tạp và cần phối hợp đa ngành và chuyên môn sâu để chăm sóc bệnh lý cơ bản về đường tiêu hóa cũng như cung cấp giải pháp nuôi dưỡng tĩnh mạch tại nhà”.

Vai trò và lợi ích của chất xơ đối với cơ thể

Khi trình bày về chủ đề “Dietary fiber và tiêu hóa - Hấp thụ chất dinh dưỡng”, TS Phan Thế Đồng - Phó Chủ tịch LCH Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM giải thích dietary fiber (tiếng Việt gọi là chất xơ) là thuật ngữ để chỉ tất cả những thành phần của thực phẩm kháng lại các men tiêu hóa của con người. Chất xơ cũng thuộc nhóm Carbohydrate, được tạo thành từ những đường đơn kết lại với nhau thành chuỗi.

Các chất xơ được cấu tạo từ những đơn vị đường đơn khác nhau, do vậy đã tạo nên một nhóm hợp chất đa dạng và phong phú về cấu trúc và đặc điểm lý hóa. Các liên kết glycoside giữa các đơn vị đường trong chất xơ không chịu tác động bởi các enzyme hiện diện ở ruột non nhưng lại bị cắt đứt bởi môi trường acid và một số enzyme sinh ra từ các vi khuẩn đường ruột.

“Do đó, chất xơ không được tiêu hóa và hấp thụ ở ruột non người nhưng có thể được tiêu hóa và lên men bởi các vi sinh vật ở ruột già- TS Phan Thế Đồng nói.

Quá trình chất xơ đi từ miệng đến khi được loại thải ra ngoài

Tùy theo khả năng hòa tan trong nước, chất xơ được phân ra thành hai nhóm chính là chất xơ không hòa tan và chất xơ hòa tan.

- Chất xơ không hòa tan như Cellulose, Lignin và một vài Hemicellulose là thành phần cấu tạo của vách tế bào thực vật, được tìm thấy trong ngũ cốc nguyên hạt, các loại hạt, trái cây và rau củ hoặc trong vỏ động vật giáp xác như tôm, cua.

Do chỉ có khả năng hút nước nhưng không hòa tan trong nước nên đặc điểm của chúng là trương nở và tăng khối lượng nhưng không tạo nên được trạng thái gel và ít bị lên men bởi các vi sinh vật đường ruột.

- Chất xơ hòa tan bao gồm Pectin, Inulin, các loại gum, β-glucan... có nhiều trong các loại rau củ, trái cây, rong biển và một số loại hạt cốc. Sau khi hòa tan trong nước chúng tạo nên một dạng gel có đặc điểm keo, nhớt, góp phần hạn chế sự khuếch tán các vật chất trong một môi trường lỏng đồng thời cản trở dòng chảy của một chất lỏng làm cho vận tốc di chuyển của chúng chậm đi.

Khi trong chế độ ăn có chứa chất xơ hòa tan sẽ làm cho môi trường bên trong ống tiêu hóa trở nên keo nhớt, gây ảnh hưởng từ thức ăn bị hạn chế, do đó khả năng tiêu hóa trong ruột non kém đi. Ngược lại, tốc độ di chuyển của chất dinh dưỡng trong ống tiêu hóa chậm nên thời gian chất dinh dưỡng đi qua ruột non lâu hơn, quá trình tiêu hóa và hấp thụ ở ruột non diễn ra nhiều hơn.

Các chất dinh dưỡng đơn giản như đường glucose, fructose, amino acid, cầu béo thực phẩm bao gồm các chất béo và cholesterol... bị giam giữ trong mạng lưới chất xơ, thay vì được tái hấp thu vào cơ thể, sẽ bị loại thải cùng với chất xơ.

Một số chất xơ mang đơn vị uronic acid như galaturonic, glucuronic... sẽ được chuyển đổi thành ion âm trong môi trường trung tính của ruột non và liên kết với các chất khoáng hoặc các kim loại nặng có mặt trong thức ăn nên không được hấp thụ vào cơ thể.

Hầu hết các chất xơ hòa tan sẽ bị tiêu hóa và lên men bởi hệ vi khuẩn đường ruột. Sản phẩm chính của quá trình lên men này là các acid béo chuỗi ngắn như acetate, propionate và butyrate. Chất xơ hòa tan được xem là có hoạt tính prebiotic, tạo điều kiện cho sự phát triển các lợi khuẩn đường ruột, từ đó mang lại những lợi ích cho sức khỏe.

Các acid béo chuỗi ngắn được tế bào niêm mạc hấp thụ, một phần chuyển hóa thành năng lượng tại chỗ cho tế bào niêm mạc, một phần khác được vận chuyển trong máu và đi vào các quá trình chuyển hóa khác nhau trong cơ thể.

Quá trình lên men còn sản xuất peptide giống glucagon (GLP-1) và peptide YY (PYY). Hai hormone đường ruột này đóng vai trò gây cảm giác no. Do đó, chất xơ trong chế độ ăn uống có thể làm giảm đáng kể lượng thức ăn thu nạp, đồng nghĩa với việc giảm đáng kể năng lượng thu nạp vào cơ thể.

TS Phan Thế Đồng - Phó Chủ tịch LCH Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM khuyến nghị cần đa dạng bữa ăn với các loại rau củ, các loại trái cây, các loại hạt cốc khác nhau

Từ những tác động của chất xơ đến khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng, cùng với vai trò prebiotic chất xơ mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất xơ có khả năng giúp phòng ngừa và quản lý một số bệnh về rối loạn chuyển hóa trong đó bao gồm thừa cân béo phì, đái tháo đường, tim mạch...

Tùy theo thành phần và cấu trúc của chúng, các chất xơ có thể mang các tính chất lý hóa khác nhau và do đó tác động đến quá trình tiêu hóa, hấp thụ và lên men khác nhau, từ đó mang lại những lợi ích sức khỏe khác nhau.

Một thực phẩm thường chứa cả chất xơ không hòa tan và chất xơ hòa tan. Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ rệt về tính chất giữa các chất xơ từ các nguồn thực phẩm khác nhau. Phó Chủ tịch LCH Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM khuyến nghị: “Cần đa dạng bữa ăn với các loại rau củ, các loại trái cây, các loại hạt cốc khác nhau để đảm bảo các lợi ích mà chất xơ có thể mang lại cho cơ thể”.

Kém tiêu hóa hấp thu làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị bệnh, kéo dài thời gian nằm viện và tăng nguy cơ tử vng

Bài báo cáo của BS.CK2 Dương Thị Kim Loan - Nguyên Trưởng Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Thống Nhất về “Hội chứng kém hấp thu: Thách thức trong chẩn đoán, điều trị” nhấn mạnh rằng, mỗi con người có một hệ thống tiêu hóa vô cùng hoàn hảo, thực hiện chức tốt chức năng tiêu hóa, hấp thu các chất dinh dưỡng giúp duy trì tình trạng sức khỏe tốt.

Trẻ em, người lớn đều cần một chế độ dinh dưỡng đủ và cân đối các nhóm chất dinh dưỡng: đạm, béo, bột đường, vitamin, khoáng chất, nước, chất xơ để giúp cơ thể tăng trưởng, phát triển tối ưu, phòng các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng.

Đường tiêu hóa bắt đầu từ miệng, động tác nhai giúp tiêu hóa một phần thức ăn nhờ amylase của tuyến nước bọt. Tiếp đến là động tác nhào trộn và các enzyme tại dạ dày. Ruột non là nơi diễn ra quá trình tiêu hóa hấp thu chủ yếu của cơ thể, nhờ lớp vi nhung mao.

Tế bào niêm mạc ruột có hệ thống enzyme rất chặt chẽ để tiêu hóa các chất dinh dưỡng. Việc hấp thu nhiều, hấp thu bình thường hay hấp thu ít đều do nhu động ruột quyết định. Cuối cùng là sự tham gia của các lợi khuẩn (probiotics).

3 giai đoạn tiêu hóa hấp thu chất dinh dưỡng được đề cập trong báo cáo gồm:

  1. Pha trong lòng ruột non
  2. Pha niêm mạc
  3. Pha vận chuyển

Tóm lại, thức ăn đi từ miệng đến đại tràng sẽ trải qua sự tiêu hóa thức ăn chủ yếu từ miệng, dạ dày và hấp thu các chất dinh dưỡng chủ yếu ở ruột non. Cuối cùng, các chất dinh dưỡng từ đường tiêu hóa vào máu, mạch bạch huyết và nuôi dưỡng các cơ quan trong cơ thể.

Vitamin được hấp thu trên bề mặt tế bào ruột non qua cơ chế khuếch tán thụ động và vận chuyển chủ động. Sự hấp thu các chất khoáng sẽ phức tạp hơn: canxi khuếch tán thụ động qua màng nhờ kênh đặc biệt, hấp thu các khoáng chất khác cần gắn chất chuyên chở; photpho vào tế bào ruột qua chất đồng vận chuyển natri-photpho.

Bất kỳ rối loạn vận động đường tiêu hóa, sự tiêu hóa hay hấp thu nào cũng tác động lên sự phân phối các chất dinh dưỡng đến tế bào ruột non.

BS.CK2 Dương Thị Kim Loan - Nguyên Trưởng Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Thống Nhất

BS.CK2 Dương Thị Kim Loan cho biết: “45% nhu cầu năng lượng của ruột non và trên 70% nhu câu năng lượng của niêm mạc đại tràng được cung cấp từ thức ăn trong ống tiêu hóa”, đồng thời cảnh báo nuôi tĩnh mạch dài ngày sẽ gây hậu quả thiếu dưỡng niêm mạc ruột.

Sự hấp thu protein được chuyên gia mô tả, sau khi protein được tiêu hóa, peptides và amino acid trong lòng ruột đi vào tế bào ruột, liên quan sự vận chuyển qua màng tại bờ bàn chải của tế bào ruột, bên trong tế bào ruột, peptides vẫn còn được thủy phân thành amino acids, các acids amin này đều là các acids amin tự do, qua màng đáy tế bào ruột vào máu.

Amino acids từ máu đi đến tất cả mô cơ thể làm nguyên liệu tổng hợp protein, tiền chất cho nhiều phân tử khác nhau và tạo năng lượng. Acid amin không chỉ có 1 chất vận chuyển, đây là cơ hội để tăng khả năng hấp thu protein từ đường ruột.

Sự tiêu hóa chất béo chủ yếu ở ruột non, acid mật từ gan và túi mật đóng vai trò quan trọng trong hấp thu lipid. Chất béo được nhũ tương hóa bởi muối mật và được tiêu hóa nhờ sự ly giải lipid (men lipase tụy) thành monoglycerides và acid béo tự do (FFAs: Free fatty acides).

Sản phẩm tiêu hóa được vận chuyển dưới dạng các hạt micelles (phức hợp hình cầu nhỏ chứa FFAs, monoglyceride và muối mật) với đầu ưa nước hướng ra ngoài lòng ruột và sản phẩm chất béo được tiêu hóa ẩn trong hình cầu.

Hạt micceles mang chất béo được tiêu hóa đến bề mặt tế bào niêm mạc ruột mà được bao quanh bởi lớp không thấm nước, 3 acides béo được phóng thích để khuếch tán ngang qua biểm mô ruột vào trong tế bào ruột. Trong tế bào ruột MCFA (Midium Chain Fatty Acids) có nguồn gốc từ MCT di chuyển qua màng đáy bên và khuếch tán vào máu.

“Sự rối loạn hấp thu chất béo có thể bắt đầu từ giai đoạn thiếu enzyme, thiếu muối mật cho đến vấn đề vận chuyển hay sự tái hấp thu muối mật ở hồi tràng” - BS.CK2 Dương Thị Kim Loan nêu vấn đề.

MCT (Midium Chain Triglycerides) là nguồn tạo năng lượng dễ dàng, gồm 3 acid béo chuổi trung bình (8-14 Carbon), được hấp thu trực tiếp từ tế bào niêm mạc ruột vào hệ TM cửa (không cần nhủ tương hóa của muối mật).

MCT được hấp thu dễ dàng còn có tính chất chống viêm tại ruột, thúc đẩy tăng trưởng của tế bào niêm mạc ruột, tiết chất nhầy bảo vệ bề mặt ống tiêu hóa.

Cũng trong phần báo cáo, chuyên gia đã nhấn mạnh rằng, chức năng tiêu hóa, hấp thu các chất dinh dưỡng bình thường là vô cùng quan trọng và cần thiết, khi có bất thường trong quá trình tiêu hoá, hấp thu sẽ gây ra sự thiếu hụt năng lượng và các chất dinh dưỡng dẫn đến những hậu quả cho cơ thể ở những mức độ khác nhau: suy dinh dưỡng, sụt cân, chậm tăng trưởng ở trẻ em, ảnh hưởng đến kết quả điều trị của bệnh nhân, giảm chất lượng cuộc sống...

Một chế độ dinh dưỡng quá dư thừa, vượt quá khả năng tiêu hóa hấp thu của đường tiêu hóa cũng sẽ gây những biểu hiện của kém tiêu hóa hấp thu và gây những hậu quả nghiêm trọng đối với cơ thể: béo phì, bệnh lý tim mạch, chuyển hóa, mất cân bằng hệ vi khuẩn chí đường ruột...

Hội chứng kém hấp thu là tình trạng có một hay nhiều chất dinh dưỡng, khoáng chất không được tiêu hoá, hấp thu từ đường tiêu hoá, dẫn đến cơ thể thiếu hụt những dưỡng chất đó. Các bệnh cảnh lâm sàng của hội chứng kém hấp thu bao gồm kém hấp thu toàn thể và kém hấp thu đơn chất dinh dưỡng.

Các biểu hiện rối loạn dung nạp tiêu hóa, đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy, tiêu phân sống... có thể xảy ra ở bất kỳ ai, ở bất kỳ lứa tuổi nào và bất kỳ hoàn cảnh nào với những mức độ khác nhau, có thể thoáng qua và tự khỏi hay kéo dài gây ảnh hưởng sức khỏe, sụt cân, đôi lúc cần phải đi khám hay nhập viện.

Bệnh nhân nằm viện, đặc biệt bệnh nhân nặng có tỷ lệ cao kém dung nạp tiêu hóa (khoảng 30%), ảnh hưởng đến việc hấp thu các chất dinh dưỡng gây thiếu hụt năng lượng, protein dẫn đến suy dinh dưỡng, suy mòn cơ thể trầm trọng khiến hiệu quả điều trị bệnh không khả quan, kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tử vong.

Trong thực tế lâm sàng, các vấn đề kém tiêu hóa hấp thu khá thường gặp bao gồm trẻ em, người lớn với nhiều bệnh cảnh khác nhau. Đây là thách thức lớn trong chẩn đoán, việc điều trị hội chứng này giúp nhanh hồi phục bệnh, duy trì sức khỏe, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Hội chứng kém hấp thu bao gồm tình trạng đau bụng, tiêu chảy, tiêu phân mỡ, thiếu máu, sụt cân, suy dinh dưỡng do các nguyên nhân từ niêm mạc đường tiêu hóa, sự thiếu hụt men tiêu hóa các chất đạm, béo, bột đường bẩm sinh hoặc từ các bệnh nạp thức ăn hằng ngày. Các triệu chứng lâm sàng về tiêu hóa hay triệu chứng toàn thân gồm thiếu máu, sụt cân, suy dinh dưỡng, chậm tăng trưởng.

Các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán có thể kể đến định lượng mỡ/phân, muối mật, test hơi thở, chụp cắt lớp ruột, sinh thiết niêm mạc ruột...

Trên cơ sở xác định nguyên nhân của hội chứng kém hấp thu, các giải pháp điều trị hiệu quả sẽ được đưa ra. Phát hiện sớm nguy cơ suy dinh dưỡng để hỗ trợ dinh dưỡng kịp thời, lựa chọn công thức nuôi dưỡng tối ưu, ưu tiên dinh dưỡng tiêu hóa, tăng cường miễn dịch đường tiêu hóa, bổ sung các vi chất dinh dưỡng, lợi khuẩn, prebiotic khi có chỉ định, hỗ trợ nuôi dưỡng tĩnh mạch khi nuôi tiêu hóa không đủ nhu cầu. Nếu đường tiêu hóa không còn chức năng, cần xem xét nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn.

>>> “Hội nghị Dinh dưỡng TPHCM mở rộng là điểm sáng trong hoạt động dinh dưỡng Việt Nam”

>>> Những điểm mới trong điều trị, dự phòng bệnh lý tiêu hóa bằng y học hiện đại và y học cổ truyền

>>> Có nên sử dụng nước kiềm thường xuyên trong sinh hoạt và điều trị các bệnh lý tiêu hóa?

 
>>> “Chán ăn không phải là điều tất yếu của tuổi già”
>>> Những thách thức trong chẩn đoán và điều trị khó tiêu chức năng
>>> Ăn nhiều thịt đỏ, thiếu chất xơ, thiếu vitamin D gây polyp, ung thư đại tràng

Hội nghị Dinh dưỡng TPHCM mở rộng lần thứ XII năm 2024 do Liên chi hội Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM phối hợp cùng Hội Dinh dưỡng Việt Nam và Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TPHCM tổ chức ngày 27/7/20247 với chủ đề “Dinh dưỡng trong bệnh lý tiêu hóa”. Số lượng học viên và đại biểu tham dự trực tiếp gấp 2 lần dự kiến của Ban tổ chức và hơn 600 học viên tham dự trực tuyến.

Bên cạnh đó, chương trình có khách mời tham dự đến từ hơn 100 bệnh viện, cơ sở y tế các tỉnh thành cùng 24 đơn vị là các trường đại học, viện nghiên cứu trên cả nước. Trên hết, hội nghị đón hơn 1/3 số lượng đại biểu là cán bộ công tác tại tuyến cơ sở, trạm y tế.

BS.CK2 Đỗ Thị Ngọc Diệp - Phó Chủ tịch Hội Dinh Dưỡng Việt Nam, Chủ tịch Liên Chi Hội Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM tin rằng, thông qua hội nghị giúp các cán bộ y tế biết thêm về những nghiên cứu đang diễn ra, những tiến bộ - thay đổi trong can thiệp dinh dưỡng cũng như các sản phẩm dinh dưỡng mới, công nghệ mới và kỹ thuật mới trong điều trị, cải thiện và nâng cao sức khỏe.

Đối tác AloBacsi

Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ

Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình

Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình

hoàn toàn MIỄN PHÍ

Khám bệnh online

X