Nghiên cứu khoa học về dị ứng thức ăn, táo bón chức năng và dinh dưỡng trong tiêu chảy kéo dài ở trẻ em
Phiên 4 của Hội nghị Dinh dưỡng TPHCM lần XII năm 2024 với 3 báo cáo về các nghiên cứu và hợp tác lâm sàng tích cực, liên tục trong các vấn đề tiêu hóa thường gặp ở trẻ em, bao gồm mẫn cảm thức ăn, táo bón và tiêu chảy kéo dài. Qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng và sự cần thiết của các chiến lược dinh dưỡng.
Dị ứng thức ăn trở thành bệnh lý nghiêm trọng với số lượng bệnh nhân ngày càng đông
BS.CK1 Đoàn Thị Bảo Thúy, Khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 1 trình bày tại hội nghị những kết quả thu được từ “Khảo sát tỉ lệ mẫn cảm thức ăn ở trẻ có xét nghiệm IgE đặc hiệu, tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 2”.
Số liệu từ trang web dị ứng thức ăn của Mỹ công bố, năm 2019 có 33 triệu người dân nước này bị dị ứng thức ăn. Trong 10 người lớn thì có 1 người bị dị ứng thức ăn và ở trẻ em là 1/13. Trong số đó có 42-51% đã từng có ít nhất một lần bị dị ứng nặng nề.
Từ 2007-2016, các ca có phản ứng dị ứng đến mức sốc phản vệ với thức ăn tăng đến 377%. “Điều này cho thấy dị ứng thức ăn hiện nay có thể được xem như một bệnh lý nghiêm trọng với số lượng bệnh nhân ngày càng đông” - BS.CK1 Đoàn Thị Bảo Thúy nhận xét.
Sữa, trứng, đậu phộng, các loại hạt, lúa mì, đậu nành, cá, động vật giáp xác, mè là nguyên nhân gây ra hầu hết các phản ứng dị ứng thực phẩm nghiêm trọng ở Mỹ.
Dị ứng thức ăn thường bị nhầm với những bệnh lý khác không qua trung gian miễn dịch như bất dung nạp lactose, phản ứng bất lợi với cafein hay các chất độc ở cá. Dị ứng thức ăn được phân thành dị ứng thức ăn qua trung gian miễn dịch IgE, không qua IgE và kết hợp cả hai.
BS.CK1 Đoàn Thị Bảo Thúy giải thích cơ chế dị ứng qua trung gian IgE: “Hệ miễn dịch của đường hô hấp, tiêu hóa và da luôn tiếp xúc với các dị nguyên tiềm năng. Giống như các tác nhân vi sinh, dị nguyên có thể gắn kết với các thụ thể nhận diện và được xử lý bởi các tế bào miễn dịch.
Trong bệnh dị ứng, sự nhận diện này tạo ra IgE đặc hiệu với kháng nguyên; sự biểu hiện quá mức của cytokine loại 2 (IL-4, IL-5, IL-13) dẫn đến tổn thương mô, rối loạn chức năng, và tái cấu trúc bất thường”.
Thuật ngữ “mẫn cảm thức ăn” dùng để chỉ sự hiện diện của IgE đối với một kháng nguyên chuyên biệt (test da, đo IgE đặc hiệu trong máu). Bệnh nhân mẫn cảm một loại thức ăn có thể không có biểu hiện lâm sàng khi dùng thức ăn đó.
Khi chẩn đoán dị ứng thức ăn cần có lâm sàng bệnh sử dị ứng thức ăn, có bằng chứng mẫn cảm bằng test lẩy da hoặc IgE đặc hiệu.
Ưu điểm của test lẩy da là rẻ, kết quả nhanh, độ nhạy cao tuy nhiên lại xâm lấn và có nguy cơ sốc phản vệ và độ đặc hiệu thấp. Xét nghiệm này cũng không thể thực hiện được khi có tổn thương da lan rộng, không chính xác khi đang dùng antihistamine, corticoid...
Đo IgE đặc hiệu đắt tiền và không có kết quả ngay nhưng khắc phục được các nhược điểm của test lẩy da: thực hiện đơn giản (cả trong những trường hợp không làm được test lẩy da), độ nhạy và độ đặc hiệu cao.
Tình hình bệnh nhi đến khám vì các rối loạn ăn uống, kèm biểu hiện dị ứng thức ăn ngày càng gia tăng, tuy nhiên hiện vẫn chưa có số liệu cụ thể về tỷ lệ trẻ mẫn cảm cũng như tỷ lệ của các dị nguyên thức ăn thường gặp.
Các bác sĩ tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 2 thực hiện đề tài nghiên cứu với mục tiêu xác định tỷ lệ mẫn cảm với thức ăn nói chung và các loại dị nguyên cụ thể như sữa bò, trứng, đậu nành và hải sản theo từng nhóm tuổi ở trẻ em được nghi ngờ có dị ứng thức ăn.
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp cắt ngang mô tả trên 1.000 bệnh nhân đến khám dinh dưỡng tại Bệnh viện Nhi đồng 2 từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2020. Các bệnh nhân này đều bị nghi ngờ dị ứng thức ăn và được kiểm tra IgE đặc hiệu.
Kết quả cho thấy, 1/3 số trẻ em đến khám không phát hiện dị nguyên, trong khi 2/3 còn lại có phản ứng với ít nhất 1 trong 5 dị nguyên thức ăn thường gặp.
- Mẫn cảm với sữa bò: 58,5%, cao nhất ở nhóm 36 tháng đến 6 tuổi (64,9%)
- Mẫn cảm với lòng đỏ trứng: 9,63%, cao nhất ở nhóm trên 6 tuổi (11,9%)
- Mẫn cảm với lòng trắng trứng: 29,6%, cao nhất ở nhóm trên 6 tuổi (47,89%)
- Mẫn cảm với đậu nành: 6,34%, cao nhất ở nhóm trên 6 tuổi (14,71%)
- Mẫn cảm với hải sản: 5,83%, cao nhất ở nhóm trên 6 tuổi (21,05%).
Tỷ lệ trẻ mẫn cảm với 1 dị nguyên là 40,3%, 2 dị nguyên là 16,4%, 3 dị nguyên là 5,7%, 4 dị nguyên là 1,2% và mẫn cảm với cả 5 dị nguyên khảo sát là 0,1%.
Đặc biệt, trong 174 trẻ được kiểm tra bằng Panel 1 cùng lúc, không có trẻ nào dị ứng với lòng đỏ trứng và chỉ 5,75% mẫn cảm với hải sản, thấp hơn so với kết quả đo IgE đặc hiệu.
Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ mẫn cảm thức ăn qua trung gian IgE có xu hướng tăng dần theo tuổi, đặc biệt với nhóm trên 6 tuổi. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ lấy mẫu tại phòng khám dinh dưỡng BV Nhi Đồng 2, vẫn cần thêm những nghiên cứu với mẫu đại diện được cho cộng đồng.
BS.CK1 Đoàn Thị Bảo Thúy đề xuất: “Những nghiên cứu tiếp theo sẽ kết hợp lâm sàng và nghiệm pháp thử thách đường miệng để xác định được tỉ lệ dị ứng”.
Giá trị của thang đo BITSS trong chẩn đoán táo bón chức năng ở trẻ nhỏ
Trong báo cáo về “Vai trò của thang đo phân trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Brussels (BITSS) trong chẩn đoán táo bón chức năng ở trẻ em” ThS Bùi Hùng Mạnh - Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TPHCM nhắc lại định nghĩa táo bón chức năng là tình trạng trẻ bị đau, khó đi tiêu, đi tiêu không đều và đặc biệt không có nguyên nhân thực thể.
Tỷ lệ táo bón trung bình trên thế giới là 14,4%, trong đó đa phần gặp ở trẻ em. Những hậu quả của táo bón chức năng có thể kể đến như chi phí chăm sóc sức khỏe; ảnh hưởng đến hành vi tâm lý, chất lượng cuộc sống của trẻ và phụ huynh. 30-52% trẻ bị triệu chứng kéo dài đến tuổi trưởng thành, trở thành táo bón mạn tính.
Đó chính là lý do táo bón chức năng cần được phát hiện và chẩn đoán sớm để điều trị kịp thời.
5 yếu tố chẩn đoán táo bón theo tiêu chí ROME IV gồm:
- Ít hơn 3 lần đi đại tiện trong nhà vệ sinh mỗi tuần
- Tiền sử nhịn đi ngoài hoặc ứ phân quá mức
- Tiền sử đau hoặc khó đi ngoài
- Có khối phân lớn trong trực tràng
- Tiền sử đi ngoài phân to cứng.
Tiêu chí ROME IV được xem là tiêu chuẩn trong chẩn đoán táo bón chức năng. Trong dó, tính chất phân được đo bằng thang đo phân Bristol (BSS). Tuy nhiên, thang đo phân BSS lại không phù hợp để áp dụng cho trẻ nhỏ, nhất là những trẻ sơ sinh, trẻ mặc tã và chưa được tập tự đi vệ sinh. Từ đó, thang đo phân trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi Brussels (BITSS) đã được phát triển tại nhiều quốc gia với 14 phiên bản ngôn ngữ.
Theo ThS Bùi Hùng Mạnh trình bày, nghiên cứu được triển khai trên trẻ từ 0-48 tháng tuổi đến khám tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (2023) thông qua bộ câu hỏi theo ROME IV. Tính chất phân được đánh giá trình tự qua 3 phương pháp: hỏi người chăm sóc trẻ, người chăm sóc trẻ chọn tính chất phân qua thang đo BSS và BITSS.
Từ 370 câu trả lời được thu thập từ người chăm sóc trẻ và độ tuổi trung bình của trẻ là 26,2 tháng, nghiên cứu cho thấy độ nhạy của thang đo BITSS khi đánh giá phân cứng đạt 95,3%; cao hơn thang đo BSS (87,5%).
Nghiên cứu cũng nhận thấy mức độ đồng nhất đáng kể về phân cứng khi so sánh BITSS với báo cáo của người chăm sóc trẻ (tỷ lệ đồng nhất là 91,9%, với hệ số Cohen κ là 0,75). Mức độ đồng nhất về phân cứng khi so sánh BITSS với BSS cũng khá tốt, đạt 93,5% với hệ số Cohen κ là 0,81.
Mức độ đồng nhất vừa được báo cáo về tính chất phân khi đánh giá tin cậy lặp lại giữa 2 lần phỏng vấn người chăm sóc trẻ bằng thang đo hình ảnh BSS và cả BITSS lần lượt là 87,5% với hệ số Cohen κ là 0,51 và 86,2% với hệ số Cohen κ là 0,44.
ThS Bùi Hùng Mạnh kết luận: “BITSS cho thấy hiệu quả cao và độ tin cậy chấp nhận được trong việc phát hiện phân cứng và táo bón chức năng ở trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi. Những phát hiện này hỗ trợ việc sử dụng BITSS thay vì BSS để đánh giá phân cứng ở trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi ở Việt Nam và trên Thế giới”.
ThS Bùi Hùng Mạnh cũng đề xuất cập nhật thang đo BITSS vào phác đồ điều trị Nhi khoa của các bệnh viện Nhi, trường đại học và Bộ Y tế, đồng thời xây dựng phần mềm ứng dụng di động xác định tính chất phân theo thang đo BITSS dựa trên trí tuệ nhân tạo.
Dựa vào phần mềm, tính chất phân sẽ được xác định bởi AI chỉ với ảnh chụp từ người chăm sóc. Ứng dụng này sẽ là công cụ khách quan để mô tả tính chất của phân. Với sự ra đời của ứng dụng, người chăm sóc trẻ sẽ không cần phải mô tả tình trạng phân của trẻ và việc sàng lọc táo bón chức năng nói riêng hay các bệnh rối loạn tiêu hoá chức năng khác sẽ dễ dàng và chuẩn xác hơn.
Phương pháp hỗ trợ dinh dưỡng trong tiêu chảy kéo dài, tiêu chảy mạn
Khi trình bày về “Dinh dưỡng hỗ trợ trong tiêu chảy kéo dài, tiêu chảy mạn nhi khoa”, TS.BS Nguyễn Thị Thu Hậu - Trưởng Khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 2 giải thích, tiêu chảy là tình trạng tiêu phân lỏng từ 3 lần/ngày hoặc nhiều/lỏng hơn so với bình thường. Tiêu chảy có thể ảnh hưởng đến bất kỳ lứa tuổi nào.
Tiêu chảy cấp thường kéo dài vài ngày (dưới 14 ngày). Tiêu chảy kéo dài (Persistent diarrhea) kéo dài từ 14 ngày đến dưới 4 tần. Tiêu chảy mạn (Chronic diarrhea) kéo dài trên 4 tuần.
Tiêu chảy mạn liên quan đến rất nhiều vấn đề bệnh lý mãn tính và bệnh lý nền. Trong tiêu chảy kéo dài, nhiễm trùng (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng) là một nguyên nhân phổ biến. Ngoài ra còn có các cơ chế do kém hấp thu, tăng xuất tiết, phản ứng viêm, dị ứng và các rối loạn nhu động.
Những hậu quả do tiêu chảy kéo dài và phương pháp hỗ trợ dinh dưỡng được đề cập trong báo cáo gồm:
- Mất nước và điện giải cần bù nước đường uống theo cơ chế đồng vận chuyển.
- Mất các chất dinh dưỡng: Kẽm, vitamin A, protein... được bổ sung bằng chế độ ăn đầy đủ dưỡng chất, hỗ trợ phục hồi niêm mạc tiêu hóa.
- Tổn thương niêm mạc ruột nặng và kéo dài, giảm men tụy và men ruột phải hạn chế kích thích ruột và giúp phục hồi niêm mạc ruột.
- Kém hấp thu chất dinh dưỡng thường dùng chế độ giảm lactose.
- Rối loạn miễn dịch (giảm đề kháng, tăng nguy cơ dị ứng thức ăn) nên ưu tiên nuôi ăn đường tiêu hóa, lựa chọn thực phẩm phù hợp.
- Rối loạn hệ khuẩn ruột cần phục hồi microbiome.
Các can thiệp dinh dưỡng nhấn mạnh việc nuôi ăn đường tiêu hóa sớm và đầy đủ, giảm kích thích niêm mạc, giúp phục hồi niêm mạc tiêu hóa, điều hòa phản ứng viêm và giảm tính thấm ở ruột, cũng như phục hồi hệ khuẩn chí ruột, bổ sung các dưỡng chất thiết yếu và sử dụng các chế độ ăn đặc biệt phù hợp với từng nguyên nhân, chẳng hạn như chế độ ăn không lactose hoặc ít FODMAP, chế độ ăn cho dị ứng thức ăn hay chế độ EEN trong Crohn’s.
Bài báo cáo cũng đề cập đến vai trò của probiotics và prebiotics trong quản lý tiêu chảy kéo dài/tiêu chảy mạn tính và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi liên tục và điều chỉnh chế độ ăn uống được cá nhân hóa.
Những trẻ bị bất dung nạp lactose không uống được sữa dễ có nguy cơ thiếu canxi và khoáng cho xương. Giải pháp đề ra là giảm tốc độ hoặc lượng lactose xuống đại tràng; sử dụng sữa giảm hoặc không có lactose; chia nhỏ lượng sữa trong hoặc sau bữa ăn; dùng men lactose trước khi uống sữa hoặc các chế phẩm sữa; dùng sữa chua lên men vi khuẩn sống.
Giải pháp dinh dưỡng trong điều trị CMPA (dị ứng đạm sữa bò) là công thức thủy phân toàn phần hầu như không còn các mảnh protein lớn có khả năng gây dị ứng. Tuy nhiên nó có chứa các peptide có tiềm năng thúc đẩy quá trình dung nạp đường uống.
Rối loạn nhu động ruột lành tính thường xảy ra trong 3 năm đầu đời, trẻ đi cầu cầu 3-5 lần lỏng, sẽ không bao giờ đi cầu vào lúc ngủ. Đây là dạng rối loạn chức năng đường tiêu hóa gây tiêu chảy kéo dài thường gặp nhất ở trẻ dưới 3 tuổi.
Chuyên gia lưu ý, chế độ dinh dưỡng của trẻ cần loại bỏ những thức ăn quá béo, giới hạn lượng nước trái cây không thuộc họ cam chanh chứa nhiều sorbitol như lê, mận, đào, táo (< 120-180ml/ ngày) sẽ giúp cải thiện tạm thời tình trạng này. Bên cạnh đó, việc điều trị chủ yếu là huấn luyện thói quen đi cầu.
Trưởng Khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 2 kết luận: “Dinh dưỡng giúp ích rất nhiều trong điều trị các trường hợp tiêu chảy kéo dài và tiêu chảy mạn”.
>>> “Hội nghị Dinh dưỡng TPHCM mở rộng là điểm sáng trong hoạt động dinh dưỡng Việt Nam”
>>> Những điểm mới trong điều trị, dự phòng bệnh lý tiêu hóa bằng y học hiện đại và y học cổ truyền
>>> Có nên sử dụng nước kiềm thường xuyên trong sinh hoạt và điều trị các bệnh lý tiêu hóa?
>>> Can thiệp, điều chỉnh dinh dưỡng cho bệnh nhân viêm ruột mạn tính
>>> “Chán ăn không phải là điều tất yếu của tuổi già”
>>> Những thách thức trong chẩn đoán và điều trị khó tiêu chức năng
>>> Ăn nhiều thịt đỏ, thiếu chất xơ, thiếu vitamin D gây polyp, ung thư đại tràng
|
Hội nghị Dinh dưỡng TPHCM mở rộng lần thứ XII năm 2024 do Liên chi hội Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM phối hợp cùng Hội Dinh dưỡng Việt Nam và Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TPHCM tổ chức ngày 27/7/20247 với chủ đề “Dinh dưỡng trong bệnh lý tiêu hóa”. Số lượng học viên và đại biểu tham dự trực tiếp gấp 2 lần dự kiến của Ban tổ chức và hơn 600 học viên tham dự trực tuyến. Bên cạnh đó, chương trình có khách mời tham dự đến từ hơn 100 bệnh viện, cơ sở y tế các tỉnh thành cùng 24 đơn vị là các trường đại học, viện nghiên cứu trên cả nước. Trên hết, hội nghị đón hơn 1/3 số lượng đại biểu là cán bộ công tác tại tuyến cơ sở, trạm y tế. BS.CK2 Đỗ Thị Ngọc Diệp - Phó Chủ tịch Hội Dinh Dưỡng Việt Nam, Chủ tịch Liên Chi Hội Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM tin rằng, thông qua hội nghị giúp các cán bộ y tế biết thêm về những nghiên cứu đang diễn ra, những tiến bộ - thay đổi trong can thiệp dinh dưỡng cũng như các sản phẩm dinh dưỡng mới, công nghệ mới và kỹ thuật mới trong điều trị, cải thiện và nâng cao sức khỏe. |
Bài viết có hữu ích với bạn?
Có thể bạn quan tâm
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ
Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
