Phòng ngừa đột tử khi luyện tập thể thao: cho ai và như thế nào?
Tại Hội nghị Khoa học thường niên 2024 do Bệnh viện Nhân dân Gia Định tổ chức, TS.BS Nguyễn Hoàng Hải - Giám đốc bệnh viện nhấn mạnh, đột tử trong luyện tập thể thao gặp hầu hết ở vận động viên nam (chiếm 90%) và 92% xảy ra trong lúc đang chơi thể thao, chỉ có 7% xảy ra trong khoảng 30 phút - 1 giờ sau luyện tập.
Bóng đá và bóng rổ là hai bộ môn thể thao gây nguy cơ đột tử cao nhất
TS.BS Nguyễn Hoàng Hải - Giám đốc Bệnh viện Nhân dân Gia Định cho biết, một người bị đột tử khi luyện tập thể thao sẽ xảy ra một vấn đề hiệu ứng xã hội rất lớn vì đây là bệnh mang tính chất đột ngột, hậu quả nặng nề, thậm chí tử vong.
Ông cho biết luyện tập thể thao mang lại rất nhiều lợi ích như duy trì cân nặng lý tưởng, cải thiện giấc ngủ và cải thiện sức khỏe tinh thần. Đồng thời luyện tập thể thao giúp kiểm soát đường huyết, kiểm soát huyết áp và kiểm soát rối loạn lipid máu. Một trong các đặc tính của luyện tập thể thao là giảm nguy cơ ung thư, giảm khoảng 20-30% ung thư mới mắc, đặc biệt là ung thư trực tràng hoặc ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới.
TS.BS Nguyễn Hoàng Hải nhấn mạnh bất cứ bộ môn thể thao hay hình thức nào cũng mang lại lợi ích cho người bệnh, chỉ cần chạy bộ 5-10 phút mỗi ngày giúp giảm các kết cục tim mạch bất lợi cho người bệnh. Nếu duy trì thói quen chạy bộ lâu dài sẽ giảm 50% tử vong tim mạch và giảm tử vong do mọi nguyên nhân lên đến 29%.
Tuy nhiên khi luyện tập thể thao ngoài những lợi ích mang lại, người vận động viên còn phải đối diện với rất nhiều nguy cơ. Chuyên gia dẫn chứng trong một đoàn hệ NCAAA với thời gian theo dõi 20 năm cho thấy, một vận động viên luyện tập thể thao có nguy cơ tử vong do tai nạn lên đến 50%, trong đó các tai nạn có thể gặp như tai nạn xe hơi, tai nạn xe máy liên quan đến quá trình vận động thể thao.
Về nguy cơ tử vong do tim mạch ở vận động viên chơi thể thao lên tới 13% và trong các bệnh lý, tử vong do tim mạch đứng hàng đầu ở các vận động viên. Khi so sánh với những người chơi thể thao bình thường không phải vận động viên thì nhóm người là vận động viên có tỷ lệ đột tử tăng gấp 2 lần.
Về tần suất đột tử do tim liên quan thể thao trong dân số chung, chuyên gia dẫn chứng cho thấy trong một khảo sát tại Pháp từ năm 2005 - 2010, tần suất này có tỷ lệ khá thấp chỉ khoảng 4,6/ 1 triệu người/năm, thường gặp ở nhóm từ 40-50 tuổi. Còn đối với vận động viên trẻ dưới 35 tuổi chỉ chiếm khoảng 6%, vận động viên thi đấu có nguy cơ gấp 4,5 lần.
Bên cạnh đó, đặc điểm của đột tử này gặp hầu hết ở vận động viên nam (chiếm 90%) và 92% xảy ra trong lúc đang chơi thể thao, chỉ có 7% xảy ra trong khoảng 30 phút - 1 giờ sau luyện tập. Hậu quả của việc này rất nặng nề vì chỉ có 30% bệnh nhân còn sống sót khi đến bệnh viện, tỷ lệ tử vong chung lên đến 84%. Như vậy, tần suất đột tử liên quan đến thể thao trong dân số chung khá thấp.
Đối với vận động viên, vị chuyên gia dẫn chứng trong một nghiên cứu cho thấy tần suất đột tử do tim liên quan thể thao ở vận động viên dao động khoảng 6,8/100.000 vận động viên. Bên cạnh đó tần suất này còn liên quan chặt chẽ đến tuổi, những vận động viên trên 35 tuổi có tỷ lệ đột tử do tim cao hơn gấp 5-6 lần so với những vận động viên dưới 35 tuổi.
Hai môn thể thao có nguy cơ gây đột tử nhiều nhất là bóng rổ và bóng đá, đây là hai môn thể thao cần tính chuyên nghiệp cao. Trong dân số chung cũng tập luyện rất nhiều bộ môn thể thao, theo một nghiên cứu tại Pháp, đột tử trong dân số chung, bộ môn chạy xe đạp đường dài có tỷ lệ tử vong cao nhất chiếm tới 30%, chạy bộ chiếm 21%. Những môn thể thao thường thực hành hàng ngày như bơi lội có tỷ lệ tử vong 3,7%, tenis 1,8%, những môn ít ảnh hưởng đến đột tử nhất là bóng bàn và bóng chuyền dao động khoảng 0,6-0,7%.
Khuyến cáo những nhóm bệnh nhân không nên tập thể thao cường độ cao
Giám đốc Bệnh viện nhân dân Gia Định thông tin về nguyên nhân đột tử do tim liên quan đến thể thao, dù đột tử ở dân số chung hay vận động viên trẻ tuổi đều rất khó tìm được nguyên nhân, khoảng 40-70% không phát hiện được nguyên nhân đột tử. Tuy nhiên nếu đột tử xảy ra trong dân số chung đa phần xảy ra do động mạch vành chiếm tỷ lệ khoảng 80%, còn ở người trẻ dưới 35 tuổi thường gặp do bất thường cấu trúc tim như suy tim phì đại hoặc các bệnh tim bẩm sinh khác.
Về dự phòng đột tử do tim liên quan đến thể thao, TS.BS Nguyễn Hoàng Hải dẫn chứng trong một khảo sát CAA tại Hoa Kỳ cho thấy trong vòng 20 năm qua tần suất đột tử do tim đã giảm khoảng 30% nhờ vào chiến lược tầm soát dựa vào bệnh sử và thăm khám lâm sàng. Tại Ý có một chương trình tương tự được nâng lên thành chương trình quốc gia với việc hỏi bệnh sử, thăm khám lâm sàng và kèm thêm đo điện tim, kết quả cho thấy tỷ lệ đột tử tại Ý trong 20 năm qua đã giảm đến 90%.
Việc tiến hành tầm soát đột tử do tim sẽ chia thành hai nhóm: nhóm dưới 35 tuổi và nhóm trên 35 tuổi.
Đối với nhóm bệnh nhân dưới 35 tuổi, khuyến cáo chia hoạt động thể lực thành 2 nhóm: thứ nhất là nhóm luyện tập thể thao nhằm mục đích thi đấu, đây là nhóm huấn luyện chuyên nghiệp và chú trọng vào thành tích. Thứ hai là nhóm luyện tập nhằm mục đích giải trí, nâng cao sức khỏe.
Khi tầm soát cho nhóm thi đấu chuyên nghiệp cần thực hiện thường quy cho những nhóm bệnh nhân này, cách tầm soát là dựa trên thăm khám lâm sàng và hỏi bệnh sử theo tiêu chuẩn của AHA, còn với Hội Tim châu Âu có kết hợp thêm đo điện tâm đồ.

Theo đó, vị chuyên gia dẫn chứng 14 yếu tố tầm soát tim mạch trước luyện tập cho vận động viên của Hội Tim Hoa Kỳ bao gồm:
Đối với bệnh sử bao gồm 7 yếu tố về tiền căn cá nhân: đau ngực/ tức ngực/ nặng ngực khi gắng sức; ngất không rõ nguyên nhân; khó thở; các tiền căn bệnh lý của người bệnh như: ghi nhận có âm thổi tim trước đây; tăng huyết áp tâm thu; giới hạn tham gia thể thao; bác sĩ yâu cầu kiểm tra vấn đề tim mạch.
3 yếu tố tiền căn gia đình: tập trung hỏi những người trẻ dưới 50 tuổi về gia đình có thành viên đột tử hay mất chức năng tim mạch khi còn trẻ hay không; đồng thời xác định gia đình có người thân mắc vấn đề bệnh cơ tim phì đại, cơ tim dãn nở; hội chứng QT dài hay không…
Đối với khám lâm sàng có 4 yếu tố nhằm mục đích xác định lại các yếu tố đã hỏi bệnh sử trước đó như: có âm thổi ở tim, đo huyết áp động mạch cánh tay, dấu hiệu lâm sàng hội chứng Marfan, loại trừ hẹp eo động mạch chủ.
Dẫn chứng ứng dụng của bảng điểm AHA, chuyên gia cho biết theo khảo sát trên 3620 vận động viên ở các trường trung học cho thấy bảng điểm AHA với 14 thành tố chỉ có độ nhạy là 14%, trong khi đó giá trị tiên đoán dương chỉ có 0,3%. Khi so sánh với điện tâm đồ, độ nhạy cao là 87%, giá trị tiên đoán dương là 13,6%. Như vậy so với việc hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng, hiệu ứng tầm soát đột tử bằng việc hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng kém hơn so với điện tâm đồ. Vì vậy năm 2020 theo khuyến cáo của Viện Tim châu Âu đã bổ sung dấu hiệu điện tâm đồ vào khuyến cáo.
Theo đó, ở vận động viên trẻ dưới 35 tuổi, dấu hiệu điện tâm đồ được cho là bình thường như: tình trạng dày thất trái hoặc dày thất phải theo tiêu chuẩn điện thế thường gặp; Block nhánh phải không hoàn toàn; ST chênh lên trong trường hợp tái cực sớm; T âm từ V1-V3; nhịp chậm xoang; loạn nhịp xoang; ngoại tâm thu nhĩ, ngoại tâm thu bộ nối…
Dấu hiệu điện tâm đồ được cho là bất thường như: Block nhánh trái hoàn toàn; QRS > 140 ms; sóng T âm; ST chênh xuống; nhịp quá chậm < 30 lần/ phút; nhịp nhanh nhĩ; rối loạn nhịp thất…
Ngoài các dấu hiệu rõ ràng về điện tâm đồ bình thường hoặc bất thường cần có một dấu hiệu của điện tâm đồ vùng xám, nếu có trục lệch trái hoặc lệch phải; dãn nhĩ trái hoặc nhĩ phải; block nhánh phải hoàn toàn. Nếu có hai yếu tố trong điện tâm đồ vùng xám bắt buộc bác sĩ phải đánh giá thêm bệnh lý tim mạch liên quan.
Đối với nhóm bệnh nhân trên 35 tuổi cũng chia làm 2 nhóm: nhóm một là vận động viên thi đấu chuyên nghiệp bắt buộc phải hỏi bệnh sử, thăm khám lâm sàng và đo điện tâm đồ 12 chuyển đạo. Còn đối với người luyện tập thông thường nhằm mục đích giải trí, tăng sức khỏe, nếu người bệnh đó có yếu tố bệnh lý tim mạch nền cần xem xét vấn đề này. Nếu không có bệnh tim mạch nền, cơ thể khỏe mạnh cần đánh giá thang điểm SCORE để tìm yếu tố tim mạch.
Nếu người đó có điểm SCORE thấp dưới 5%, không có yếu tố tim mạch nền, bệnh nhân này có thể vận động thể lực bình thường không cần hạn chế. Nhưng nếu điểm SCORE cao từ 5-10% trở lên và có các bệnh lý tim mạch đi kèm, cần đánh giá cường độ vận động thể lực thấp, trung bình hay cao.
Đối với những người mặc dù có bệnh, đánh giá cường độ vận động có thể ở mức thấp hoặc trung bình, người này có thể được phép luyện tập. Còn nếu cường độ vận động thể lực từ cao đến rất cao, cần làm tiếp các nghiệm pháp gắng sức về hình ảnh học, chức năng hoặc chụp CT động mạch vành để xem bệnh nhân có nguy cơ cao hay không, sau đó có thể xác định lại bằng chụp động mạch vành xâm lấn.
Đối với một người luyện tập >35 tuổi cần tuân theo mô hình FITT, trong đó:
F - frequenc: xác định số lượng buổi tập trong một khoảng thời gian nhất định
I - intensity: mức độ gắng sức khi tham gia vào một hoạt động thể thao nhất định. Vấn đề này có nhiều cách tính để xác định cường độ vận động thấp, trung bình hay cao. Có thể tính theo công thức tần số tim tối đa 220 - tuổi, hoặc dựa trên cảm giác chủ quan của người bệnh như khi người đó đang luyện tập thể thao nhưng chỉ trả lời được từng từ, không nói được thành câu, khi đó người bệnh đang tập dưới mức độ gắng sức rất cao.
T - time: thời gian thực hiện một buổi luyện tập
T - type: mô thức luyện tập gồm hiếu khí, sức bền/kháng lực, tập cơ hô hấp


Trên thực hành lâm sàng, đối với những người có bệnh tim mạch chưa ổn định chắc chắn sẽ không cho người bệnh luyện tập thể thao cường độ cao. Vấn đề quan trọng là xác bệnh nhân đang có tình trạng tim mạch chưa ổn định.
Theo đó, đối với tăng huyết áp, một người bị tăng huyết áp trên 160 mmHg là chưa ổn định, hoặc tăng huyết áp có kiểm soát nhưng có nhiều tổn thương cơ quan đích sẽ xếp vào bệnh nhân thuộc nhóm tim mạch chưa ổn định, không tập thể thao cường độ cao, nhưng luyện tập thể thao cường độ thấp hoặc trung bình vẫn được phép tập.
Đối với bệnh mạch vành, nếu một bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp trong vòng dưới 12 tháng là không được luyện tập thể thao cường độ cao. Với những bệnh nhân chụp mạch vành thấy hẹp >70% nhánh chính không được khuyên người bệnh luyện tập thể thao cường độ cao. Còn đối với các hẹp thấp hơn cần thực hiện nghiệm pháp gắng sức tối đa để xem người bệnh có thiếu máu cơ tim để chắc chắn trong việc khuyến cáo người bệnh tập luyện thể thao cường độ cao, còn cường độ thấp và trung bình người bệnh vẫn có thể tập luyện.
Đối với bất thường bẩm sinh mạch vành, nếu một người bệnh có cầu cơ động mạch vành cần hỏi bệnh sử xem bệnh nhân có đau ngực hay không hoặc thực hiện các nghiệm pháp gắng sức tối đa để kiểm tra bệnh nhân có rối loạn nhịp hay các triệu chứng thiếu máu cục bộ hay không. Nếu người bệnh không có các triệu chứng trên, người bệnh hoàn toàn có thể luyện tập thể thao cường độ cao.
Đối với suy tim, bất kể các môn cần dùng sức mạnh cũng không nên khuyến bệnh nhân tập luyện thể thao cường độ cao.
Đối với các bệnh lý như: bệnh van động mạch chủ, van hai lá, bệnh cơ tim, bệnh cơ tim phì đại trên thực hành lâm sàng gặp khá nhiều nhưng đa phần người bệnh đã nắm được tình trạng bệnh lý của họ, do đó không có nhu cầu phải luyện tập thể thao cường độ cao, bác sĩ không gặp khó khăn đối với nhóm bệnh nhân này.
Các báo cáo viên phiên Tim mạch Tổng quát nhân chứng nhận của hội nghị
>>> Người trẻ suy thận mạn giai đoạn cuối, tuổi thọ rút ngắn đến 30 năm
>>> Lợi ích của liệu pháp hormone thay thế trong điều trị suy buồng trứng sớm
>>> 99% bệnh nhân phục hồi tự nhiên sau ngưng tim ngoại viện vẫn phải sống thực vật
>>> Cuộc chiến giảm cân ở người trẻ: Cần nhiều sự kiên trì hơn là động lực nhất thời
>>> Đột quỵ ở người trẻ: Xuất huyết não gặp nhiều hơn, tiên lượng tốt hơn cao tuổi
>>> Đái tháo đường người trẻ - Gánh nặng hiện tại và tương lai
Bài viết có hữu ích với bạn?
Có thể bạn quan tâm
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ
Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
