Hotline 24/7
08983-08983

Các bệnh huyết học, bệnh về máu nào thường gặp, chữa trị ra sao?

Bệnh lý về huyết học, bệnh về máu bao gồm những bệnh gì? Đâu là dấu hiệu nhận biết bệnh? Phòng bệnh lý huyết học bằng biện pháp gì?

Hiện nay, số lượng những người mắc các căn bệnh có liên quan đến máu ngày càng gia tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do chế độ sinh hoạt chưa điều độ, chế độ dinh dưỡng chưa đủ đáp ứng cho nhu cầu của cơ thể. Đặc biệt, nguyên nhân chủ yếu là từ tác động tiêu cực của những vấn đề căng thẳng thần kinh hay sức khoẻ tinh thần.

Vậy bệnh lý về huyết học bao gồm những bệnh gì? Đâu là dấu hiệu nhận biết bệnh? Phòng bệnh lý huyết học bằng biện pháp gì? Tất cả những thắc mắc sẽ được giải đáp bởi ThS.BS.CK2 Nguyễn Quang Đẳng - Trưởng khoa Huyết học - Bệnh viện Thống nhất TPHCM.

ThS.BS.CK2 Nguyễn Quang Đẳng

1. Máu có vai trò gì?

Máu có vai trò đặc biệt đối với sự sống và sức khoẻ con người. Máu trong cơ thể có chức năng cung cấp các chất dinh dưỡng, cấu tạo các tổ chức và loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hoá của cơ thể. Máu và các chế phẩm của máu là một loại thuốc đặc biệt không có gì có thể thay thế được.

Hiện nay, nhu cầu máu cho cấp cứu điều trị rất lớn và ngày càng tăng do chấn thương gây mất máu, đặc biệt là tai nạn giao thông, phụ nữ băng huyết sau sinh; bệnh nhân thiếu máu do ung thư, sốt rét; nhu cầu máu dành cho phát triển kỹ thuật cao như mổ tim, ghép thận…

Mỗi năm, nước ta cần khoảng 1.800.000 đơn vị máu điều trị. Đây là một con số khá lớn và chúng ta chỉ đáp ứng được khoảng 54% nhu cầu máu cho điều trị. Trong bối cảnh đó, hiến máu nhân đạo là một hành động vừa ý nghĩa, vừa thiết thực, đem đến hi vọng sống cho nhiều người.

2. Các bệnh lý về máu thường gặp là bệnh gì?

Bệnh về máu là một trong những bệnh liên quan đến các dòng tế bào máu như hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Trong đó, các bệnh thường gặp bao gồm: bệnh bạch cầu, bệnh thiếu máu, bệnh giảm tiểu cầu miễn dịch, loạn sản tủy.

Bệnh thiếu máu thường liên quan đến dòng tế bào hồng cầu. Bên cạnh vấn đề thiếu máu, bệnh còn làm giảm đi chức năng sống của bệnh nhân, đồng thời khiến các cơ quan khác ảnh hưởng theo. Thiếu máu nặng có thể khiến các cơ quan bị tổn thương, chẳng hạn như suy tế bào gan, thậm chí dẫn đến tử vong nếu gặp tình trạng thiếu máu trầm trọng.

Với bệnh lý liên quan đến bạch cầu, thường là bệnh ung thư. Bệnh làm rối loạn dòng tế bào bạch cầu, tăng sinh các tế bào ác tính trong tuỷ xương. Bên cạnh đó, bệnh cũng có thể chèn ép các dòng tế bào khác khiến bệnh nhân có triệu chứng nhiễm trùng nặng như: nhiễm trùng huyết, thiếu máu não (do bạch cầu chèn ép hồng cầu), xuất huyết (do bạch cầu chèn ép tiểu cầu)… Từ đó, bệnh nhân có thể tử vong từ biến chứng của bệnh bạch cầu.

Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch là bệnh lý giảm tiểu cầu vô căn do cơ thể có kháng thể chống lại tiểu cầu dẫn đến tình trạng giảm tiểu cầu. Giảm tiểu cầu ảnh hưởng lên quá trình xuất huyết của bệnh nhân. Do đó, bệnh nhân có thể tử vong nếu không điều trị trong trường hợp giảm tiểu cầu nặng.

3. Nguyên nhân của các bệnh lý về máu?

Máu chiếm 1/3 cơ thể của con người và đóng một vai trò quan trọng. Không những giúp điều hoà hoạt động tuần hoàn, duy trì huyết áp, mà còn cung cấp oxy đến toàn bộ cơ quan để sản xuất năng lượng của toàn bộ cơ thể.

Nếu cơ thể xuất hiện một số dấu hiệu như: xuất huyết các đốm đỏ trên da, thường xuyên mệt mỏi, thiếu sức, da nhợt nhạt, trên cơ thể xuất hiện hạch một cách bất thường… rất có thể bạn đang có vấn đề về máu.

Nhiều người vẫn hay nhầm lẫn dấu hiệu của căn bệnh này với các bệnh sốt thông thường nên không hề nhận ra mình đang có khả năng mắc các chứng bệnh nguy hiểm.

Việc chủ quan không nhanh chóng đi khám và xét nghiệm máu ngay khi thấy các biểu hiện này có thể dẫn tới tình trạng nặng nề hơn, đòi hỏi nhiều chi phí và thời gian điều trị bệnh hơn, thậm chí là tử vong.

Như đã nêu, hiện nay các căn bệnh có liên quan đến máu ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta lại chưa có đủ kiến thức để nhận biết sớm những dấu hiệu ban đầu của các căn bệnh này.

Theo thống kê, tỉ lệ người có khả nặng bị bệnh về bạch cầu là 1 - 5%, bệnh về thiếu máu là 10 – 20% và xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch là 1 - 2%.

Rất nhiều người trong chúng ta thường chủ quan đến những bất ổn của sức khoẻ. Tuy nhiên, trên thực tế bất kỳ ai cũng có thể mang trong người mầm bệnh nhưng không hề hay biết.

Cụ thể, tuỳ theo những loại bệnh mà sẽ có những nguyên nhân khác nhau.

Đối với bệnh thiếu máu:

Thiếu máu do vấn đề cung cấp: không cung cấp đủ chất cho cơ thể do ăn kiêng, kén ăn dẫn đến thiếu chất…

Thiếu máu trong quá trình sản xuất: do ảnh hưởng của tuỷ xương lên dòng tế bào hồng cầu nên bệnh nhân không có đủ hồng cầu để nuôi sống cơ thể. Ví dụ, khi bệnh nhân bị suy tuỷ, tế bào máu không sản sinh lại được nên bệnh nhân sẽ bị thiếu máu.

Thiếu máu do các bệnh lý nội khoa: ví dụ, bệnh tim mạch có thể làm bệnh nhân bị thiếu máu.

Đối với bệnh lý liên quan đến bạch cầu, ở đây đề cập đến căn bệnh ác tính - bệnh ung thư bạch cầu. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của hoá chất, tia xạ hoặc những rối loạn di truyền của người bệnh.

4. Biểu hiện của một người có nguy cơ bị bệnh lý về máu?

Những biểu hiện của bệnh lý huyết học tuỳ thuộc vào sự hưởng của các dòng tế bào máu (hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu) lên cơ thể.

  • Đối với bệnh liên quan đến bạch cầu, bệnh nhân sẽ có triệu chứng của tình trạng nhiễm trùng như: sốt, môi khô, lưỡi dơ, mệt mỏi.
  • Đối với bệnh thiếu máu, bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng như: say xẩm, mệt mỏi, da nhợt nhạt, hoạt động kém.
  • Đối với triệu chứng của giảm tiểu cầu, bệnh nhân có thể gặp tình trạng xuất huyết, biểu hiện nhẹ của xuất huyết da niêm, xuất huyết tiêu hoá, xuất huyết não…

Nếu không điều trị kịp thời, chẳng hạn như đối với bệnh về bạch cầu, bệnh nhân có thể thiếu máu nặng dẫn đến tổn thương các cơ quan, xuất huyết não, xuất huyết tiêu hoá, thậm chí là tử vong.

Diễn tiến của các bệnh lý bạch cầu thay đổi không giống nhau và có thời gian ủ bệnh tương tự các bệnh như: bệnh lao, ung thư hay các bệnh lý ngoại khoa khác. Tuỳ theo cơ thể đáp ứng của bệnh nhân mà diễn tiến bệnh có thể rất nhanh (bệnh lý bạch cầu cấp) hoặc cũng có thể rất chậm (bệnh lý bạch cầu mãn tính) khiến bệnh nhân khó phát hiện.

Tóm lại, đối với hầu hết các căn bệnh có liên quan đến máu, những biểu hiện cơ bản của người bệnh thường là da nhợt nhạt, xanh xao, dễ mệt mỏi, cảm thấy buồn nôn. Nếu chúng ta không phát hiện để có phương án điều trị, hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ thì có thể diễn tiến nghiêm trọng hơn dẫn đến suy đa phủ tạng.

5. Biện pháp phòng ngừa những bệnh lý về máu là gì?

Để phòng ngừa bệnh lý về máu, đa số chúng ta chủ yếu sẽ phòng bệnh thiếu máu (thiếu máu do cung cấp). Theo đó, chúng ta nên ăn uống đầy đủ, sinh hoạt điều độ.

Các bệnh lý về bạch cầu và tiểu cầu nói chung rất khó phòng ngừa. Bởi đa số những bệnh lý này không phải do ảnh hưởng của tác động cuộc sống.

Khi cơ thể xuất hiện những dấu hiệu lâm sàng như: sốt kéo dài, triệu chứng xuất huyết da niêm, xuất huyết da, chảy máu răng; hoặc có triệu chứng của bệnh thiếu máu như: say xẩm, chóng mặt, mệt mỏi, hoạt động kém thì nên tìm đến các cơ sở y tế để kiểm tra xem mình có bệnh lý về máu hay không.

6. Những phương pháp nào điều trị các bệnh về máu?

Mặc dù y học ngày càng tiến bộ và không ngừng có những bức phá mới, thế nhưng trên thực tế vẫn có những vấn đề sức khoẻ, y học chưa thể tìm ra được phương pháp điều trị hiệu quả.

Hiện nay, đối với bệnh bạch cầu, phương pháp điều trị đã có những tiến bộ mới đó là điều trị ghép tế bào gốc. Theo đó, người ta có thể thay thế các tế bào gốc, cải thiện cuộc sống kéo dài khoảng 15-20 năm. Đó là một trong những tiến bộ của ngành huyết học truyền máu.

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta chưa có phương pháp nào có thể điều trị dứt điểm những bệnh lý như: thiếu máu di truyền thalassemia, bệnh HP… mà chỉ dừng lại ở mức độ điều trị triệu chứng hoặc tư vấn về di truyền, ngăn ngừa sinh bệnh trong các thế hệ sau.

Một số bệnh thường gặp và hướng điều trị cơ bản:

  • Bệnh Thalassemia – bệnh tan máu bẩm sinh: Phẫu thuật cắt lách, tuy nhiên đây chỉ là biện pháp điều trị tình thế.
  • Bệnh Hemophilia – bệnh rối loạn đông máu: điều trị cầm máu khi bị chảy máu hay tụ máu. Bổ sung các yếu tố đông máu để có thể cầm chảy máu.
  • Bệnh đa hồng cầu: Phương pháp dùng thuốc hoặc phương pháp trích máu.
  • Bệnh thiếu máu: tuỳ vào nguyên nhân cụ thể để điều trị tương ứng. Nếu thiếu máu do mất máu từ ổ loét dạ dày thì dùng thuốc trị loét. Bổ sung chất sắt để điều trị chứng thiếu máu do sắt. Nếu thiếu máu nặng thì cần phải truyền máu. Bổ sung vitamin B2 cho những bệnh nhân thiếu máu hồng cầu lớn.
  • Ung thư máu: Hoá trị, cấy tuỷ, liệu pháp sinh học, xạ trị…

Anh Thi (ghi)

Nguồn: Video Bệnh huyết học

Đối tác AloBacsi

Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ

Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình

Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình

hoàn toàn MIỄN PHÍ

Khám bệnh online

X