Những điều cần biết về virus SARS-CoV-2, bệnh COVID-19 và tính hiệu quả của vắc xin
Thông tin trong bài viết được cung cấp bởi TS Nguyễn Hồng Vũ - Viện nghiên cứu ung thư, City of Hope, California, Mỹ.
I. Virus SARS-CoV-2:
1. Nguồn gốc của virus SARS-CoV-2 đến từ đâu?
Hiện nay, có rất nhiều nhóm điều tra về nguồn gốc xuất phát của SARS-CoV-2. Dựa trên thông tin hiện tại, chúng ta biết rằng căn bệnh xuất phát vào khoảng cuối năm 2019 ở một chợ hải sản lớn tên Huanan (Vũ Hán, Trung Quốc). Vào thời điểm cuối năm 2019, nhiều người tại chợ này mắc một căn bệnh viêm phổi rất kỳ lạ và không tìm được nguyên nhân gây bệnh. Ở ngôi chợ này, người dân không những bán hải sản mà còn bán cả gà, chim, dơi…
Đến ngày 31/12/2019, Trung Quốc thông báo rằng có 27 người mắc căn bệnh kỳ lạ này, trong đó có 7 người trong tình trạng nguy cấp, 2 người có thể xuất viện và những người còn lại có thể điều trị được. Nhưng sau đó 3 ngày, số lượng người nhiễm bệnh tăng lên rất nhanh, tới 44 người. Nhiều người bắt đầu cảm thấy có điều gì kỳ lạ và cho rằng loại virus này có thể lây giữa người với người. Chính vì vậy, họ quyết định đóng cửa ngôi chợ để tiến hành điều tra sâu hơn.
Theo đó, giới nghiên cứu bắt đầu dịch mã toàn bộ bộ gen của virus nghi ngờ để tìm ra xem virus này có cùng họ hàng với loại virus nào hay không.
Khu chợ hải sản Huanan ở Vũ Hán, được cho là nơi xuất hiện SARS-CoV-2. Ảnh: Xinhua
Ngày 23/01/2020, trang GenBank đăng tải bộ gen của chủng virus kỳ lạ này. Từ dữ liệu đó, người ta thấy rằng đây là một chủng virus hoàn toàn mới và có họ hàng khá gần với những loại virus trên dơi, tê tê. Họ nghi ngờ rằng việc mua bán trộn lẫn nhiều loại động vật như vậy có thể sẽ tạo cơ hội cho virus từ những động vật khác nhau biến đổi và lây cho người.
Bởi vì virus được phát hiện này hoàn toàn mới, nên người ta đã đặt tên cho nó là nCoV (Novel CoronaVirus). Sau đó, người ta thấy rằng virus nCoV này có sự tương đồng gần như 80% với virus SARS-CoV đã được phát hiện vào năm 2002.
Virus SARS-CoV này đã giết khoảng 800 người và lây lan trên 37 quốc gia. Tuy nhiên, lúc đó con người đã nhanh chóng dập tắt được dịch và virus này đã biến mất hoàn toàn cho đến nay. Do 2 loài virus có đặc điểm khá tương đồng, nên người ta đã quyết định đổi tên từ nCoV thành SARS-CoV-2.
2. Hình dáng và cấu trúc virus SARS-CoV-2
Virus SARS-CoV-2 có bộ gen di truyền là RNA với hình dạng như một chuỗi xoắn cuộn và chứa tất cả thông tin di truyền. Chuỗi xoắn cuộn này được bao bọc bởi lớp màng gắn với nhiều gai (Spike Glycoprotein).
Virus SARS-CoV-2 sử dụng những cái gai của mình để tương tác với thụ thể (ACE2) trên màng tế bào của chúng ta. Khi virus tương tác với thụ thể thành công, nó sẽ xúc tiến đến quá trình tiếp theo là xâm nhập vào bên trong tế bào. Không may là trên đường hô hấp của chúng ta có nhiều thụ thể ACE2, do vậy khi virus SARS-CoV-2 tấn công thì “chiến trường” xảy ra chính là ở cổ họng.
Bên cạnh đó, đại dịch xuất hiện lại cùng thời điểm chuẩn bị cho Tết âm lịch ở Trung Quốc, vì vậy họ di chuyển rất nhiều không chỉ trong nước mà còn trên toàn thế giới. Việc di chuyển như thế, kết hợp với sự lây truyền dễ dàng, loài virus này đã chớp lấy cơ hội phân bố trên toàn thế giới. Hiện nay, hầu như chúng ta thấy rằng virus corona xuất hiện khắp nơi.
Virus SARS-CoV-2 sử dụng những cái gai của mình để tương tác với thụ thể (ACE2) trên màng tế bào của con người (Ảnh minh họa)
Việc lan truyền nhanh và rộng như vậy còn có mối nguy cơ khác là sự đột biến của virus. Khi virus xâm nhập vào cơ thể và sản sinh ra những thế hệ sau thì chuỗi xoắn cuộn RNA sẽ sao chép chuỗi thông tin di truyền vào thế hệ sau.
Tuy nhiên, không phải lúc nào thông tin di truyền cũng được sao chép như nhau mà có thể tạo ra những mã sai mà trong sinh học gọi là đột biến. Khi virus đột biến sẽ tạo ra những biến chủng mới nhưng không phải biến chủng nào cũng có thể gây hại cho con người.
Nhưng khi số lượng người mắc virus rất nhiều và số lượng virus tăng cao thì hàng trăm ngàn biến chủng mới sẽ có một vài biến chủng trở nên độc hại hơn, dễ lây nhiễm hơn và thậm chí có thể kháng lại phản ứng miễn dịch mà con người tạo ra bởi vắc xin hoặc những người bị nhiễm bởi loài virus của chủng cũ.
Chủ yếu những biến thể mà con người quan tâm hiện nay nó có ảnh hưởng xấu tới việc chống dịch là những biến chủng ảnh hưởng lên protein gai trên màng virus làm thay đổi. Khi đó, virus có thể tăng khả năng lây nhiễm và đánh bại hệ miễn dịch chúng ta tạo bởi vắc xin. Ví dụ: chủng B.1.1.7, đây là chủng được phát hiện ở Anh với sự lây nhiễm rất nhanh; chủng P.1 được phát hiện ở Brazil; chủng B.1.351 được phát hiện ở Nam Phi, một trong những chủng được coi là rất nguy hiểm vì có khả năng đánh bại hệ miễn dịch được tạo ra từ vắc xin. Gần đây, có thêm chủng Lambda phát hiện ở Peru và chủng Delta có nguồn gốc từ Ấn Độ.
Càng ngày chúng ta càng thấy rằng, chủng đột biến xuất hiện nhiều hơn bởi số lượng người mắc virus quá nhiều. Do đó, các nhà khoa học cũng hi vọng khi đã có nhiều vắc xin, số lượng người chích vắc xin được tăng lên, virus sẽ ít có cơ hội ở trong cơ thể con người khiến việc sinh ra biến chủng mới cũng ít hơn. Bởi chỉ khi virus sinh sản thì mới có khả năng tạo ra biến chủng mới. Nếu virus ở ngoài môi trường thì sau một thời gian nó sẽ chết đi và không có khả năng sinh sản, tạo biến chủng.
II. Bệnh COVIDD-19 và điều trị:
1. Triệu chứng khi nhiễm virus SARS-CoV-2:
Chúng ta biết rằng mặt trận chính của virus trên cơ thể con người chính là hệ hô hấp. Vì vậy, khi chúng ta bị nhiễm virus thì các tế bào trên hệ hô hấp bị ảnh hưởng, gây ra những triệu chứng như:
- Ho
- Khó thở
- Đau họng
- Mất vị giác hoặc khứu giác
- Ngạt mũi hoặc chảy nước mũi
- Sốt hoặc ớn lạnh
- Mệt mỏi
- Đau cơ hoặc đau người
- Đau đầu
- Buồn nôn hoặc nôn mửa
- Tiêu chảy
Tuy nhiên, khi hệ miến dịch phản ứng quá mức sẽ tạo nên cơn bão cytokine. Cytokine là những phân tử được tiết ra bởi những tế bào miễn dịch.
Các triệu chứng khi mắc COVID-19: sốt cao, ớn lạnh, mệt mỏi, đau đầu, khó thở...
2. Ai dễ bị nhiễm virus SARS-CoV-2?
Các số liệu cho tới hiện nay ghi nhận về số lượng người nhiễm bệnh và tình trạng bệnh, người ta thấy rằng:
- 81% người nhiễm mắc COVID-19 có triệu chứng rất nhẹ, thậm chí không có triệu chứng, thường rơi vào nhóm người nhỏ tuổi < 50 tuổi. Đặc biệt trẻ < 10 tuổi hầu như không có bệnh và nếu có thì triệu chứng rất nhẹ và nhanh khỏi.
- Khoảng 14% người phát triển bệnh nặng hơn và cần có sự hỗ trợ của y tế. Nhóm này chủ yếu thường rơi vào nhóm người > 60 tuổi.
- Ngoài ra, trong khoảng 5% người nhiễm bệnh sẽ phát triển rất nặng và có thể có nguy cơ tử vong. Nhóm người này thường rơi vào nhóm người > 65 tuổi.
- Tuy nhiên, một số bệnh nhân có bệnh nền như tiểu đường, bệnh về phổi, tim, ung thư cũng thuộc nhóm người có nguy cơ cao khi mắc bệnh COVID-19.
Dù vậy, chúng ta không nên chủ quan vì bất cứ nhóm tuổi nào cũng có một xác suất nhỏ trong đó phát triển thành bệnh nặng và có thể nguy hiểm cho tính mạng.
3. Cơ thể làm gì khi bị virus SARS-CoV-2 tấn công?
Khi virus tấn công cơ thể, các tế bào bị tấn công sẽ phát ra tín hiệu và kêu gọi hệ miễn dịch để bảo vệ chúng. Hệ quả của việc kích hoạt miễn dịch là tạo ra kháng thể (phân tử có hình dạng chữ Y). Kháng thể có khả năng bám rất đặc hiệu vào virus, giúp ngăn chặn virus tiếp xúc, xâm nhập vào tế bào hoặc biến virus thành “miếng mồi ngon” cho những tế bào miễn dịch khác như đại thực bào.
4. Cách điều trị COVID-19:
Cho đến hiện nay, việc điều trị bệnh COVID-19 chủ yếu vẫn là điều trị hỗ trợ. Nghĩa là trong quá trình mắc COVID-19, chúng phải nghỉ ngơi và bổ sung đầy đủ nước để giữ cho cơ thể khoẻ mạnh hết sức có thể, giúp hỗ trợ cho hệ miễn dịch phát triển và tấn công lại virus. Nếu thực hiện việc điều trị trên thì có thể hết bệnh trong vòng 1 - 2 tuần.
Tuy nhiên, vẫn có một tỷ lệ người sẽ cần dịch vụ y tế chuyên nghiệp khi bệnh COVID-19 trở nên trầm trọng hơn đối với họ. Những dấu hiệu cho thấy bệnh COVID-19 có thể trở nên trầm trọng hơn có thể kể đến như:
- Cảm thấy rất khó thở.
- Đau dai dẳng hoặc cảm thấy có áp lực trong lồng ngực.
- Không thể tỉnh táo.
- Da, môi hoặc móng tay màu nhợt nhạt, mất sức sống.
Trong lúc này, có thể người bệnh cần được sử dụng các thiết bị như máy trợ thở, máy lọc máu nếu thận gặp vấn đề, đồng thời sử dụng các thuốc đặc trị virus.
Hiện nay, có rất nhiều thuốc đặc trị virus. Dựa trên con đường xâm nhập sẽ có thuốc tấn công lên những điểm mà virus tương tác với tế bào. Tuy nhiên, hấu hết các thuốc chống virus SARS-CoV-2 đều đang thử nghiệm lâm sàng và chưa thực sự chứng minh được hiệu quả. Bởi việc phát triển thuốc chống virus thực sự rất khó và không dễ như trong thiết kế thuốc để chống vi khuẩn hoặc kí sinh trùng. Vì khi virus tấn công vào tế bào, chúng sẽ sử dụng những thực thể trong tế bào của cơ thể nên nhiều lúc khó có thể phân biệt đâu là virus và đâu là tế bào của chúng ta.
III. Phòng ngừa lây nhiễm SARS-CoV-2
Có thể thấy, phòng bệnh vẫn tốt hơn chưa bệnh. Chính vì vậy, nên cố gắng không để mắc bệnh bởi rất có thể chúng ta sẽ gặp rủi ro bệnh tiến triển nặng hơn, phải điều trị bằng những thuốc đặc trị và sử dụng những thiết bị hỗ trợ hô hấp.
Như chúng ta đã biết, virus nhiễm qua đường hô hấp, và tất cả những hạt li ti phát ra từ hệ hô hấp của người nhiễm bệnh đều có khả năng lây lan cho người khác. Đó có thể qua hành động hắt xì, ho hoặc thở.
Trong các nghiên cứu khoa hoc, việc hắt xì có thể đạt tới vận tốc 50 m/s với độ khuếch tán hơn 6 m. Khi ho, vận tốc sẽ đạt 10 m/s, độ khuếch tán hơn 2 m. Thậm chí thở nhẹ thôi thì vận tốc cũng đã đạt 1 m/s với độ khuếch tán dưới 1 m.
Do vậy, nhiều tổ chức y tế trên thế giới khuyến cáo việc giữ khoảng cách là quan trọng trong việc phòng ngừa lây nhiễm SARS-CoV-2. Theo đó, khoảng cách tối thiểu chúng ta nên giữ để tránh lây nhiễm là 6 Feet (tương đương với 2 mét).
Đeo khẩu trang, vắc xin là những biện pháp phòng ngừa COVID-19 hiệu quả (Ảnh minh họa)
Ngoài việc giữ khoảng cách, đeo khẩu trang là việc làm phòng ngừa vô cũng vô quan trọng. Đeo khẩu trang sẽ giúp cho người nhiễm bệnh giảm tối thiểu những hạt li ti mang virus phát tán ra bên ngoài môi trường. Thường lớp trong cùng của khẩu trang có thể hấp thu nước rất nhanh, nên khi hắt xì hoặc ho thì lượng hạt li ti sẽ hấp thụ rất nhanh trong lớp màng cuối cùng này. Ngoài ra, người khoẻ mạnh cũng nên đeo khẩu trang bởi vì những giọt nước li ti chứa virus trong môi trường có thể được cản lại bởi khẩu trang. Chính vì vây, từ giữa năm 2020, rất nhiều nước trên thế giới đã khuyên mọi người nên mang khẩu trang khi đi ra ngoài đường hoặc tới nơi đông người.
Ngoài 2 phương pháp chủ yếu là khoảng cách và khẩu trang, trong khuyến cáo 5K của Bộ Y tế còn có việc khử khuẩn, nghĩa là giữ vệ sinh, lau rửa và để nhà cửa thông thoáng, không tập trung đông người và thực hiện khai báo y tế.
IV. Vắc xin phòng COVID-19:
Vắc xin được xem là một trong những biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất hiện nay. Bởi vắc xin được chứng minh trong lịch sử là rất hiệu quả trong ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm.
Việc phát triển vắc xin COVID-19 đã được bắt đầu rất sớm. Từ đầu năm 2020, đã có rất nhiều nhóm trên thế giới phát triển vắc xin. Hiện nay, đã có nhiều loại vắc xin từ nhiều công ty và quốc gia trên thế giới.
1. Vắc xin là gì?
Vắc xin là một sản phẩm giúp kích thích hệ miễn dịch của cơ thể để tạo ra những phản ứng miễn dịch chống lại bệnh nào đó, bảo vệ người chích vắc xin.
Con người tạo ra vắc xin cũng giống như việc tạo một “trận đánh giả” để huấn luyện cho hệ miễn dịch thế nào là những tác nhân xâm nhiễm thật để khi cơ thể gặp những tác nhân xâm nhập đó sẽ phản ứng rất nhanh chóng.

2. Những phương pháp chính tạo ra vắc xin
Hiện nay, trong nghiên cứu và phát triển vắc xin, có 3 phương pháp chính để chế tạo vắc xin là: sử dụng những virus bị làm yếu, sử dụng virus đã chết hẳn và sử dụng những tiểu phần nhỏ của virus (Subunits).
Ví dụ, với vắc xin sử dụng virus bị làm yếu, chúng ta có loại vắc xin MMR, Rotavirus hoặc Smallpox. Với vắc xin sử dụng virus đã bị chết thì có loại Hepatitis A, Flu, Polio, Rabies. Và vắc xin sử dụng công nghệ Subunits thì có loại Hepatitis B, HPV và gần đây nhất là vắc xin phòng COVID-19.
|
Các phương pháp chế tạo vắc xin |
Ưu điểm |
Nhược điểm |
|
Virus bị làm yếu (Live-attenuated) |
- Gần giống với virus trong tự nhiên. - Kích thích hệ miễn dịch hiệu quả. - Tác dụng lâu dài. |
- Khó tìm được chủng yếu thích hợp. - Nguy hiểm cho người có hệ miễn dịch yếu. - Nguy cơ biến đổi trở lại thành chủng mạnh. |
|
Virus đã bị chết (Inactivated) |
- An toàn cho chích vắc xin. - Dễ làm và chi phí thấp. |
- Không kích thích được hệ miễn dịch một cách đầy đủ. - Thường cần kết hợp các chất kích thích miễn dịch (adjuvant). |
|
Các phần nhỏ của virus (Subunits) |
- An toàn cho người chích vắc xin. - Lựa chọn những phần quan trọng. - Không phải nuôi virus thật. |
- Không kích thích được hệ miễn dịch một cách đầy đủ. - Thường cần kết hợp các chất kích thích miễn dịch (adjuvant). - Cần công nghệ cao và khá tốn kém. |
3. Con đường phát triển thuốc/ vắc xin:
Dù phát triển vắc xin qua công nghệ nào thì cũng phải đi qua con đường phát triển của thuốc/ vắc xin mà hiện nay trên toàn thế giới các nhà khoa học đang làm, bao gồm: giai đoạn trong phòng thí nghiệm, giai đoạn thử nghiệm trên động vật, giai đoạn thử nghiệm trên người, cuối cùng là cấp phép sử dụng đại trà trên cộng đồng.
Các pha trong thử nghiệm lâm sàng (thử nghiệm trên người thật):
Pha 1:
- Thời gian: vài tháng.
- Số người: vài chục
- Mục tiêu:
- Thử độ an toàn.
- Thử phản ứng cơ thể.
Pha 2:
- Thời gian: tháng - năm.
- Số người: chục - trăm.
- Mục tiêu:
- Kiểm tra độ an toàn.
- Chuẩn liều tối ưu.
- Quan sát phản ứng phụ.
- Kiểm tra hiệu quả.
Pha 3:
- Thời gian: vài năm
- Số người: trăm - ngàn.
- Mục tiêu:
- Xác nhận độ an toàn.
- Xác nhận hiệu quả.
Pha 4: sản xuất đại trà ngoài thị trường. Thu thập thông tin về độ an toàn và hiệu quả của thuốc trên mỗi cộng đồng sau những sử dụng trong thời gian dài.
4. Các tiêu chí mà vắc xin cần có:
Để đưa vắc xin tới tay người dùng, tiêu chí quan trọng nhất mà vắc xin cần có là:
- An toàn: không gây nguy hiểm, tác dụng phụ ít và nhẹ.
- Hiệu quả: kích hoạt được hệ miễn dịch toàn diện, tác dụng bảo vệ lâu dài (tạo được hiệu ứng nhớ).
- Khả dụng: vắc xin phải ổn định, dễ bảo quản, giá thành hợp túi tiền với người dân.
5. 6 loại vắc xin ngừa COVID-19 đã được cấp phép sử dụng khẩn cấp ở Việt Nam:
|
6 LOẠI VẮC XIN NGỪA COVID-19 ĐÃ ĐƯỢC CẤP PHÉP SỬ DỤNG KHẨN CẤP Ở VIỆT NAM
|
|
|
- Pfizer-BioNTech vaccine. - Moderna vaccine. - Oxford-AtraZeneca vaccine. - J&J vaccine. |
- Thông tin rõ ràng, độ tin cậy khoa học cao. - Hiệu quả bảo vệ tốt. - Tính an toàn tốt |
|
- Sputnik V vaccine |
- Độ tin cậy khoa học kém. - Hiệu quả bảo vệ và tính an toàn không rõ ràng. |
|
- Sinopharm vaccine |
- Nhiều bằng chứng thực tế cho thấy thiếu hiệu quả. |
6. Hậu quả của việc sử dụng các vắc in thiếu độ tin cậy:
Hậu quả của việc sử dụng các vắc xin thiếu độ tin cậy ở đây là khi dân số đạt được số lượng chích vắc xin rất cao nhưng số lượng người nhiễm vẫn tăng. Đây là những bài học đau thương ở các nước tiểu vương quốc Ả Rập, quốc gia Bahrain và Seychelles. Có thể thấy, tỷ lệ chích vắc xin ở những quốc gia này rất cao nhưng tỷ lệ người nhiễm vẫn tiếp tục tăng lên. Trong khi đó, số lượng người nhiễm ở các nước như Israel, Mỹ hoặc Đức đã được giảm xuống.
Bên cạnh đó, khi sử dụng vắc xin thiếu hiệu quả như vậy lên nhân viên y tế thì sẽ làm tăng rủi ro hơn nữa cho nhân viên y tế, việc này đang gặp phải ở một số nước như Indonesia (có 26 bác sĩ chết, trong đó có 10 đã chích vắc xin của Sinovac), Thái Lan. Đứng trước tin xấu về vắc xin của Trung Quốc, Singapore đã tuyên bố không coi người chích vắc xin Trung Quốc là đã chích vắc xin.
Gần đây, ở Chile, từ tháng 4 đến nay, chủng Lambda trở thành chủng lây nhiễm chính trong nước. Mặc dù tỷ lệ tiêm vắc xin rất cao nhưng số ca bệnh vẫn tăng liên tục. Được biết, chủ yếu người dân nước này được tiêm vắc xin phòng COVID-19 là vắc xin của Trung Quốc tên là CoronaVac.
Theo đó, nhóm nhà khoa học ở Chile đã thu huyết tương từ những người đã chích vắc xin CoronaVac và làm thí nghiệm trung hòa virus. Cụ thể, họ cho tương tác với serum có chứa kháng thể được tạo ra khi chích vắc xin với virus để thấy được kháng thể này có thể cản được virus bao nhiêu lần.
Qua đó, các nhà khoa học thấy rằng, những kháng thể được tạo ra bởi người chích vắc xin CoronaVac giảm hiệu quả rất nhiều đối với chủng Lambda khoảng 3 lần so với chủng nguyên gốc. Tỷ lệ này cho thấy vắc xin đã dưới mức an toàn. Đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi vì sao tỷ lệ tiêm vắc xin cao vẫn không kiềm hãm được dịch bệnh COVID-19.
Trong cùng thời gian đó, một nhóm nghiên cứu khác ở New York cũng thử nghiệm trên chủng Lambda, họ thấy rằng những mẫu huyết tương của những người đã tiêm vắc xin mRNA (Pfizer hoặc Moderna) có sự giảm hiệu quả nhưng vẫn nằm trong ngưỡng cho phép, vẫn đảm được việc trung hòa virus và ngăn cản virus tấn công vào tế bào.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, việc sử dụng vắc xin hiệu quả và có độ tin cậy cao có ý nghĩa rất nhiều trong việc chống dịch bệnh COVID-19 hiện nay.
7. Khuyến cáo sử dụng vắc xin:
- Ưu tiên mua và sử dụng các vắc xin độ tin cậy cao hơn.
- Ưu tiên sử dụng vắc xin tốt nhất cho nhân viên y tế.
Bài viết có hữu ích với bạn?
Có thể bạn quan tâm
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ
Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
