Điều phối, chuẩn bị ghép thận từ người hiến tạng sống, người hiến tạng chết
Thận học - Điều phối - Chuẩn bị cho ghép thận là nội dung trọng tâm được trình bày tại phiên CME được thực hiện trong khuôn khổ Hội nghị Khoa học thường niên lần thứ 20 do Hội Tiết Niệu - Thận học TPHCM (HUNA) phối hợp cùng Sở Y tế tỉnh Phú Yên tổ chức. Hội nghị diễn ra xuyên suốt trong 3 ngày, từ 13/7 - 15/7/2023 với hơn 220 bài báo cáo trên 40 phiên, trong đó có 5 phiên CME, quy tụ hơn 600 đại biểu tham dự.
Ghép thận từ người hiến tạng chết và từ người cho sống: giống và khác nhau thế nào?
Trong bài báo cáo “Khác biệt giữa ghép thận từ người hiến tạng chết và từ người cho sống” - TS.BS Dư Thị Ngọc Thu - Trưởng Đơn vị điều phối ghép tạng - Bệnh viện Chợ Rẫy nhấn mạnh, thận hiến từ người hiến dù sống hay khi chẳng may qua đời đều là món quà vì lòng nhân đạo, vị tha để cứu người bệnh. Nguyên tắc thực hiện làm sao để có thể an toàn cho người hiến và an toàn nhất cho người bệnh, đời sống của người bệnh và tạng ghép phải tồn tại lâu dài. Bảo đảm công bằng, minh bạch trong tuyển chọn.
Điểm giống nhau giữa người hiến sống và chết đều dựa trên tinh thần tự nguyện, cần được bảo vệ, đều phải đảm bảo y đức và tính pháp lý, đều trung lập, không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ ai. Trong khi đó, với mỗi hình thức hiến tạng sẽ có những điểm khác biệt.
Đối với hiến tạng từ người hiến sống, bệnh nhân sẽ được ghép sớm, chức năng thận hồi phục nhanh, phải có kế hoạch theo dõi người sau hiến tạng. Ngoài ra, người hiến có thể đối diện nguy cơ suy tạng cần ghép tạng, phải đăng ký vào danh sách chờ hiến - ghép Quốc gia. Cuối cùng là lợi ích cho cả người hiến và người nhận phải vượt trội hơn so với nguy cơ của việc hiến và ghép thận từ người hiến sống. Tuy nhiên, phức tạp trong hành chính pháp lý.
Theo đó, người hiến sống sẽ là người có mối quan hệ huyết thống; hoặc không có mối quan hệ huyết thống; người hiến đo chéo/ khác nhóm máu. Chuyên gia cho biết, có 6 nguyên tắc đánh giá việc hiến thận khi còn sống. Một là xác định rõ việc hiến thận là tự nguyện, không chịu bất kỳ áp lực nào. Hai là đánh giá lợi ích và nguy cơ của việc hiến tạng ở mỗi người hiến. Ba là việc ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối người hiến tạng cần dựa trên những quy định của từng trung tâm ghép.
Bốn là tạo thuận lợi cho việc người hiến tạng ra quyết định hiến thông qua giáo dục và tư vấn về lợi ích và nguy cơ của từng người, các phương pháp ghép làm giảm thiểu tối đa nguy cơ và nhu cầu chăm sóc sau hiến tạng. Năm là với người hiến được hội đồng chấp nhận, kế hoạch chăm sóc và theo dõi cần được chuẩn hóa để giảm thiểu nguy cơ của việc hiến tạng. Cuối cùng là với người hiến bị hội đồng từ chối, hội đồng cần chuẩn hóa việc lên kế hoạch cho việc chăm sóc, điều trị và hỗ trợ những đối tượng này.
Trong bài báo cáo, TS.BS Dư Thị Ngọc Thu cũng đề cập đến nền tảng của việc ra quyết định hiến tạng cũng như vai trò và trách nhiệm của hội đồng ghép tạng. Đồng thời xác định hiểu biết về các thông tin khai báo, tính tự nguyện của hiến tạng. Người hiến tạng có thể rút lại quyết định ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình đánh giá và điều này cần được tôn trọng và hỗ trợ bảo mật. Song song đó, quá trình ký giấy đồng thuận cần được người hiến tạng ký, khi không có mặt của người sắp nhận tạng hiến, các thành viên gia đình và những người khác vì có thể ảnh hưởng đến quyết định hiến tạng.
Đối với hiến tạng từ người hiến chết (từ người bệnh chết não, người bệnh chết tim) cũng dựa trên tinh thần tự nguyện (có đăng ký tình nguyện hiến tạng khi chết, có nguyện vọng muốn hiến hoặc ước nguyện của gia đình nhưng không liên quan đến tài chính). Trường hợp này, người bệnh hiến tạng phải được điều trị đến cùng bởi bác sĩ có kinh nghiệm tốt nhất, tuyên bố chết không phải là người có liên quan đến việc điều trị, phẫu thuật viên, người đang điều trị cho bệnh nhân chờ ghép hay sau ghép.
Hiến tạng từ người hiến chết không cần có kế hoạch theo dõi sau hiến tạng, một người hiến có thể ghép được cho nhiều người, có danh sách chờ ghép quốc gia và phải có quy trình thực hiện của điều phối quản lý người hiến tạng tại các khoa hồi sức cấp cứu. Mặc dù không phức tạp trong hành chính pháp lý nhưng đòi hỏi sự minh bạch và công bằng trong tuyển chọn điều phối tạng hiến.
Người hiến tạng chết não, trường hợp nào chấp nhận - từ chối thận hiến?
TS.BS Trần Văn Vũ - Bệnh viện Chợ Rẫy nhận định trong bài báo cáo “Chấp nhận hoặc từ chối thận hiến từ người hiến tạng chết não?”, để thận hiến từ người cho chết não cần đảm bảo 2 nguyên tắc. Một là người nhận thận phải được đảm bảo an toàn, không bị lây nhiễm bệnh từ thận hiến. Hai là thận hiến phải sống trong cơ thể người nhận một thời gian nhất định đủ dài.
Để đảm bảo tính nhân văn của hiến và ghép tạng từ người chết não, tình trạng bệnh lý của người hiến tạng chết não phải được điều trị triệt để, phải được đánh giá bởi nhóm chuyên gia có kinh nghiệm (hội đồng chuyên môn) và phải có quy trình đánh giá khả năng hiến mô - tạng với các tiêu chí đánh giá cụ thể.
Không nhận thận hiến (chống chỉ định tuyệt đối) với các trường hợp HIV (+) dương tính, giang mai RPR (+), TPHA (+), lao phổi (+), lao cơ qan (+), viêm phổi, nhiễm khuẩn niệu, nhiễm khuẩn huyết, ung thư cơ quan, ung thư da. Ngoài ra, với các trường hợp sau vẫn có thể nhận thận hiến (chống chỉ định tương đối) gồm có viêm phổi vừa phát hiện đã sử dụng kháng sinh (đúng, đủ liều, phổ rộng), viêm phổi đã khống chế tốt, ung thư não tiên phát, giang mai đã điều trị (dựa trên ý kiến chuyên gia da liễu).
BS Trần Văn Vũ lưu ý, người bệnh chấn thương sọ não nặng, chết não thường có nhiều rối loạn về sinh lý, chuyển hóa, điện giải, nội môi, nội tiết, các phản ứng viêm… gây ảnh hưởng đến tạng hiến. Do đó, quản lý người hiến tạng chủ yếu là việc hồi sức sao cho ổn định các rối loạn trên. Các yêu cầu tầm soát, hồi sức và đánh giá khả năng hiến mô - tạng của người hiến chết não hay tim ngừng đập trên cơ bản cũng tương tự như người hiến sống.
BS Trần Văn Vũ cho rằng, chức năng thận của người hiến tạng cần được đánh giá bằng độ lọc cầu thận (GFR). Theo đó, đối với người hiến thận còn sống, nếu GFR ≥ 90mL/phút/1,73m da được chấp nhận để hiến thận, nếu GFR 60-80mL/phút/1,73m da, quyết định lấy thận sẽ tùy theo từng cá nhân, nếu GFR < 60mL/phút/1,73m da, từ chối hiến thận. Đối với người hiến chết não, hiện chưa có khuyến cáo ngưỡng GFR bao nhiêu thì sẽ không nhận thận. Trên thực tế lâm sàng, GFR ≥ 60 có thể được chấp nhận để hiến thận; GFR 30 đến < 60 sẽ cân nhắc và tiến hành đo GFR từng thận…; GFR < 30 không lấy thận.
Song song đó cần phải đánh giá nhiều yếu tố khác của người hiến chết não như đạm niệu, tiểu máu vi thể, sỏi thận, béo phì, nhiễm viêm gan siêu vi B, C, nhiễm Cytomegalovirus (CMV)…
Trong đó, đạm niệu của người hiến cần được đánh giá dưới dạng albumin niệu, không phải protein niệu. Đánh giá tầm soát ban đầu albumin niệu ở người hiến cần dựa vào tỷ lệ albumin/creatinin (ACR) niệu ở mẫu nước tiểu ngẫu nhiên. Để chẩn đoán xác định albumin niệu ở người hiến nên dùng albumin niệu 24 giờ (AER, mg/ngày). Sử dụng tỷ số ACR nếu AER không thực hiện được. Kết quả, nếu albumin niệu 24 giờ <30mg/ngày là ngưỡng chấp nhận; nếu albumin niệu 30 - 100mg/ ngày, quyết định nhận thận hiến sẽ tùy từng người cụ thể.
Trong đánh giá về tiểu máu vi thể ở người hiến thận, thực hiện tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu (để đánh giá nhiễm khuẩn niệu), nội soi bàng quang và xét nghiệm hình ảnh liên quan (để đánh giá bệnh lý ác tính đường tiết niệu), các xét nghiệm đánh giá sỏi niệu dựa vào nước tiểu 24h (để đánh giá sỏi thận), sinh thiết thận (để đánh giá bệnh lý cầu thận). Nếu người hiến có tiểu máu do nguyên nhân có thể hồi phục, có khả năng nhận thận, hoặc nếu người hiến có bệnh thận IgA cũng có thể nhận thận.
Ngoài ra, nếu người hiến có sỏi thận (đánh giá bằng cách hỏi về tiền sử, xem lại bệnh án y khoa), cần xem xét thực hiện xét nghiệm hình ảnh đánh giá về giải phẫu trước khi cắt thận, ví dụ chụp CT dựng hình mạch máu. Đối với trường hợp này, chấp nhận người hiến có tiền sử sỏi thận hoặc đang bị sỏi thận, cần dựa trên đánh giá nguy cơ tái phát sỏi thận (sỏi oxalate). Nếu người hiến béo phì (theo định nghĩa của WHO, BMI > 30kg/m2, với người châu Á BMI > 27,5kg/m2 được xem là béo phì), quyết định nhận tạng sẽ tùy từng trường hợp cụ thể.

Bên cạnh viêm gan siêu vi B, C, thì đánh giá nhiễm Cytomegalovirus (CMV) của người hiến chết não cũng rất quan trọng. Bởi, CMV là một trong những tác nhân gây bệnh chính trên cộng đồng người ghép tạng và tỷ lệ người có mang CMV-IgG trong cộng đồng người bệnh suy thận tại Việt Nam 98,5%.
Nhiễm CMV hoạt động còn gây tăng thải ghép cấp và mạn tính, bùng phát các bệnh nhiễm trùng cơ hội khác, các bệnh lý ác tính, bệnh tim mạch và đái tháo đường và tử vong cao. Nhiễm CMV hoạt động có thể là do tái nhiễm dòng virus mới từ tạng ghép, hay từ cộng đồng hoặc tái hoạt động virus có sẵn trong cơ thể người được ghép thận. Đối với trường hợp nguy cơ cao phải điều trị dự phòng CMV ngay sau ghép, nguy cơ trung bình có thể điều trị dự phòng hay theo dõi và nguy cơ thấp thì chỉ theo dõi.
Cuối cùng, BS Trần Văn Vũ lưu ý, không nhận thận nếu phát hiện người hiến mắc bệnh thận di truyền có thể gây suy thận, người hiến có bệnh thận đa nang di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường. Tuy nhiên, vẫn có thể nhận thận khi người hiến có tiền sử gia đình trong quan hệ trực hệ có bệnh thận đa nang di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường và xét nghiệm di truyền học để loại trừ khả năng có bệnh thận đa nang di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường.
Chăm sóc và điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối chờ ghép, cần chú ý điều gì?
Chia sẻ về một chủ đề nhận được sự quan tâm của đông đảo đại biểu tham dự - “Chăm sóc và điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối chờ ghép” - PGS.TS.BS Trần Thị Bích Hương - Nguyên Phó Khoa Nội thận BV Chợ Rẫy thông tin, bệnh thận mạn giai đoạn cuối (ESRD) là nhóm bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao, tốn kém chi phí điều trị, yêu cầu chăm sóc đa chuyên khoa. Trong đó 50% bệnh nhân mắc ESRD tử vong, chủ yếu là do tim mạch.
“Tử vong do tim mạch ở ESRD cao gấp 20 lần bệnh nhân không ESRD. Bệnh lý tim mạch đóng vai trò chủ yếu trong trường hợp này là do sự lắng đọng của các chất thải hoặc điều trị lọc máu không tốt và quá tải tuần hoàn”.
Ngoài tim mạch, nguyên nhân tử vong khác ở bệnh nhân ESRD gồm nhiễm trùng 6,9% (bệnh nhân nào tiểu đạm càng nhiều, chức năng thận càng suy càng dễ nhiễm trùng), đột quỵ 2,6%. Tỷ lệ nhập viện cao do nhiễm trùng catheter, phổi.
Chuyên gia dẫn chứng, tại Mỹ, tỷ lệ tử vong của người không có bệnh thận trong dân số chung sẽ gia tăng khi tuổi đời tăng. Nhưng khi đã đến ESRD, gần như không khác biệt về tỷ lệ tử vong giữa một người trẻ 25 tuổi và người 85 tuổi. Việc ghép thận sẽ làm gia tăng thời gian sống trên nhóm bệnh nhân này.
BS Bích Hương khuyến nghị, mọi bệnh nhân CKD 4-5 (GFR < 30 ml/phút/1,73) diễn tiến đến ESRD đều được xem xét khả năng ghép thận không phân biệt điều kiện kinh tế, xã hội, giới, chủng tộc. Không từ chối ghép thận nếu chi dựa vào tuổi. Tuy nhiên, cần xem xét các yếu tố kèm theo tuổi như suy kiệt, có thể ảnh hưởng đến kết cục khi ghép thận.
Chuyên gia đánh giá cao việc đăng ký vào danh sách chờ ghép thận từ người hiến tạng chết, bởi các thống kê đã cho thấy, tỷ lệ tử vong thấp hơn gấp 3 lần khi bệnh nhân có đăng ký so với người không đăng ký.
Để có tên trong danh sách chờ ghép, BS Bích Hương cho rằng, cần đăng ký tại các trung tâm ghép thận, chọn lựa trung tâm ghép thận phù hợp nhất (chi phí ghép, khả năng chi trả từ BHYT, địa điểm trung tâm ghép, thuận tiện cho việc liên hệ; khả năng ghép thận từ người hiến tạng sống và có trong chương trình đổi chéo cặp ghép). Theo đó, bệnh nhân sẽ được đánh giá tại trung tâm ghép, nếu phù hợp bệnh nhân được ghi tên vào danh sách chờ. Tại Việt Nam hiện có Trung tâm điều phối quốc gia, tại Bệnh viện Việt Đức và Đơn vị điều phối tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Chuyên gia nhấn mạnh, “chìa khóa” quan trọng để biết bệnh nhân phù hợp với ghép thận là dự đoán các nguy cơ mất chức năng thận ghép, nguy cơ tử vong và biến chứng sau ghép nhằm mục tiêu tăng đối đa khả năng ghép thận thành công (hoặc giảm tối đa nguy cơ mất chức năng thận và biến chứng), kéo dài đời sống của thận ghép và kéo dài đời sống của bệnh nhân.
Tuy nhiên, BS Bích Hương lưu ý, không giới thiệu đánh giá ghép thận cho những trường hợp. Một là bệnh đa u tủy. Hai là bệnh thận do lắng đọng chuỗi nhẹ hoặc chuỗi nặng trừ khi bệnh nhân được điều trị triệt căn đạt hồi phục ổn định. Ba là AL amyloidosis kèm tổn thương lan tỏa ngoài thận. Bốn là xơ gan mất bù (xem xét ghép phối hợp gan-thận). Năm là bệnh phổi tắc nghẽn hoặc hạn chế nặng không hồi phục. Sáu là bệnh tim nặng chưa được điều trị và có triệu chứng. Và cuối cùng là bệnh thoái triển diễn tiến thần kinh trung ương. Song song đó, cần ghi rõ lý do bệnh nhân không giới thiệu ghép thận và thông báo cho bệnh nhân lý do không chuyển bệnh nhân sang nhóm đánh giá ghép thận.
Về thời điểm giới thiệu bệnh nhân ghép thận, chuyên gia đề cập, với người chưa lọc máu nên đánh giá 6-12 tháng trước RRT tạo thuận lợi cho việc tìm và tiến hành tìm người hiến thận còn sống và xem xét ghép thận đón đầu. Với bệnh nhân lọc máu, nên đánh giá các bệnh viện có nguyện vọng ghép thận và dùng thuốc ổn định với chức năng thận suy không hồi phục. Ngoài ra, khuyến cáo ghép thận đón đầu nếu người hiến tạng còn sống, độ lọc cầu thận ở người lớn eGRF < 10ml/ph/1,73 m2 hoặc sớm hơn nếu có triệu chứng và độ lọc cầu thận ở trẻ em eGRF < 15ml/ph.1,73m2 hoặc sớm hơn nếu có triệu chứng.
“Cần trì hoãn đánh giá ghép thận đến khi bệnh nhân được điều trị thích đáng đối với rối loạn tâm thần chưa ổn định, rối loạn tâm thần đang tiến triển, bệnh nhân không tuân thủ điều trị, nhiễm trùng đang tiến triển và chưa kiểm soát (ngoại trừ viêm gan virus C)” - BS Bích Hương nói.
Trong thời gian chờ ghép thận, bệnh nhân cần đảm bảo sức khỏe tốt cả về thể chất, tinh thần lẫn y tế. Mục tiêu là bệnh nhân luôn trong tư thế sức khỏe sẵn sàng để nhận thận từ người hiến tạng trong danh sách chờ. Để làm được điều đó, bên cạnh việc lọc máu tối ưu thì người bệnh cần phải thay đổi lối sống lành mạnh trước va sau ghép, điều trị nội khoa tối ưu, kiểm soát biến chứng tim mạch - bởi vì đây là nguyên nhân tử vong hàng đầu trước khi được ghép, điều trị nhiễm trùng và tiêm vắc xin.
Lọc máu tối ưu cho bệnh nhân ESKD chờ ghép thận cần lưu ý, urea kinetic kt/v >= 1.2; kiểm soát thể tích và huyết áp tối ưu (nếu RKF < 2ml/phút, chạy thận nhân tạo (HD) ít nhất 3h/lần x 3 lần/tuần, tiết chế Na, kèm rút nước và Na trong HD để điều hòa huyết áp, hypervolemia, phì đại thất trái); thiếu máu (Hb mục tiêu 10 đến < 11,5g/dL, EPO 120 - 180ui/kg/tuần IV, Fer, Vitamine, acid folic); dinh dưỡng (protein nạp vào 1-1,2g/kg.ngày, năng lượng 25-30kcal/kg/ngày, Na < 2-3g/ngày); nước nhập tiết chế < 1L/ ngày (tùy theo RFV); bệnh lý tim mạch (kiểm soát tăng huyết áp, suy tim, bệnh mạch vành, bệnh van tim)…
Ngoài ra, thay đổi lối sống, khuyến cáo mọi bệnh nhân hoạt động thể lực nếu không chống chỉ định, cường độ hoạt động trung bình 150 phút/tuần, nặng 75 phút/ tuần; duy trì BMI 20-30kg/m2; bỏ hút thuốc lá; giới hạn rượu bia theo khuyến cáo; tránh dùng ma túy, thuốc gây nghiện; điều trị trầm cảm, rối loạn lo âu.
Cuối cùng, “chìa khóa” quan trọng để giữ gìn sức khỏe đó là người bệnh tuân thủ các buổi hẹn khám đánh giá và tái khám trong danh sách chờ, tuân thủ lọc máu, dùng thuốc và chích ngừa, tuân thủ các hướng dẫn về lối sống (bỏ hút thuốc lá, uống rượu), vận động, đồng thời cần những hỗ trợ về tinh thần, tài chính ổn định.
Tiếp nhận người hiến tạng từ người chết não do chấn thương sọ não hay bệnh nội khoa - từ kinh nghiệm thực tiễn tại bệnh viện tuyến tỉnh
Trong phiên CME này, các báo viên cũng chia sẻ kinh nghiệm trong thực tế lâm sàng về việc tiếp nhận hiến tạng, hay bệnh thận mạn giai đoạn tiến xa.
BS.CK2 Đặng Hà Hữu Phước - Phó Giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai đề cập trường hợp hiến tạng từ người hiến chết não, nhập viện sau tai nạn giao thông. Đây là đầu tiên bệnh viện tiếp nhận, vì vậy còn gặp nhiều khó khăn trong việc chẩn đoán chết não, vấn đề pháp lý-chuẩn bị giấy tờ cần thiết cũng như chưa có hội đồng y đức. Sau khi có sự hỗ trợ từ Bệnh viện Chợ Rẫy, đã thuận lợi hiến tạng (tim, 2 thận, 2 giác mạc).
Từ tình huống này, BS Đặng Hà Hữu Phước nhận định, đây là kinh nghiệm quý báu để xử trí, tiếp cận bệnh nhân tiềm năng, để qua đó phối hợp với Bệnh viện Chợ Rẫy, cung cấp nguồn hiến tạng để phục vụ công tác ghép, dựa trên tính công bằng và minh bạch.
Cũng chia sẻ về trường hợp hiến tạng từ người hiến chết não, BS.CK2 Dương Phước Đông - Khoa Hồi sức chống độc - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang đề cập đến tình huống khác, nhập viện vì xuất huyết não, tiền căn huyết áp.
Chuyên gia cho rằng, mặc dù bệnh viện có nhiều thuận lợi (bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện Chợ Rẫy), đã từng ghép thận 2 ca, đã có 1 trường hợp hiến tạng từ người hiến chết não (2018, bệnh viện đã thành lập hội đồng chết não, tuy nhiên thực tế vẫn có nhiều khó khăn khi tiếp nhận trường hợp này.
Cụ thể, đây là tình huống đầu tiên tiếp nhận tại khoa Hồi sức chống động (nội khoa), trong khi ca thực hiện năm 2018 ở khoa Phẫu thuật-Gây mê hồi sức. Vì vậy, các bác sĩ gặp trở ngại trong vấn đề quy trình xử lý (báo cho ai, liên hệ thế nào), cũng như vấn đề giải thích với người nhà bệnh nhân.
Khi tiến hành các bước và thực hiện nhiều xét nghiệm, mặc dù kỳ vọng bệnh nhân sẽ hiến được các tạng gan, tim, thận, tuy nhiên điều này không thực hiện được, do không đáp ứng được các tiêu chuẩn. Do vậy, BS Dương Phước Đông nhìn nhận, bệnh viện vẫn còn tồn tại khi tiếp nhận thông tin hiến tạng lần thứ hai, bệnh nhân nội khoa khác với chấn thương sọ não, đa phần bệnh nhân có nhiều bệnh lý nền, khi có nhiễm trùng thì rất khó khăn trong điều trị và bảo vệ tạng.
Chuyên gia cũng kiến nghị được giải đáp cụ thể hơn trong vấn đề thành lập hội đồng chết não tại tuyến tỉnh và có kế hoạch đào tạo nhân viên trong hội đồng chết não. Hơn nữa, khi bệnh nhân ký giấy đồng ý hiến tạng, mọi chi phí bệnh viện phải chịu, trong khi BHYT không chi trả và cuối cùng phòng Công tác xã hội sẽ là nơi giải quyết vấn đề này. Đây cũng là bài toán nan giải, bởi vì không phải bệnh viện nào cũng có phòng công tác xã hội phát triển”.
ThS.BS.CK1 Nguyễn Ngọc Lan Anh - Bộ môn Nội Tổng quát, Đại học Y Dược TPHCM, đại diện nhóm các bác sĩ khoa lâm sàng Nội thận, Thận Nhân tạo, Nội Tim mạch, Dinh dưỡng, Tiết Niệu Bệnh viện Chợ Rẫy chia sẻ về “Trường hợp lâm sàng bệnh thận mạn giai đoạn tiến xa”.
Qua phần báo cáo, chuyên gia nhấn mạnh rằng, bệnh thận IgA khi phát hiện muộn điều trị khó; tử vong do tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối. Điều trị nội khoa bảo tồn suy tim ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối có chạy thận nhân tạo cần phối hợp đa chuyên ngành. Hồi phục chức năng từ ghép thận có thể kéo dài đời sống, cải thiện chất lượng sống.
>>> Hơn 220 bài báo cáo trình làng tại Hội nghị khoa học lần thứ 20 của Hội Tiết niệu - Thận học TPHCM
Bài viết có hữu ích với bạn?
Có thể bạn quan tâm
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ
Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
