Hotline 24/7
08983-08983

Vì sao cần xét nghiệm ADH?

Xét nghiệm hormone chống bài niệu (ADH) được dùng để chẩn đoán và xác định nguyên nhân gây ra sự thiếu hụt hay dư thừa hormone chống bài niệu. 

1. ADH là gì?

ADH còn được gọi là arginine vasopressin. Nó là một loại hormone được tạo ra bởi vùng dưới đồi trong não và được lưu trữ trong tuyến yên sau. Nó cho thận của bạn biết lượng nước cần tiết kiệm.

ADH liên tục điều chỉnh và cân bằng lượng nước trong máu của bạn. Nồng độ nước cao hơn làm tăng thể tích và áp lực của máu. Cảm biến thẩm thấu và cơ quan thụ cảm baroreceptor hoạt động với ADH để duy trì sự trao đổi chất của nước.

Cảm biến thẩm thấu ở vùng dưới đồi phản ứng với nồng độ của các hạt trong máu của bạn. Những hạt này bao gồm các phân tử natri, kali, clorua và carbon dioxide. Khi nồng độ hạt không cân bằng hoặc huyết áp quá thấp, các cảm biến và cơ quan thụ cảm này sẽ thông báo cho thận của bạn lưu trữ hoặc giải phóng nước để duy trì phạm vi lành mạnh của các chất này. Chúng cũng điều chỉnh cảm giác khát của cơ thể bạn

2. Xét nghiệm hormone chống bài niệu (ADH) là gì?

Hormon chống bài niệu (ADH) là một loại hormone giúp thận của bạn quản lý lượng nước trong cơ thể. Xét nghiệm ADH đo lượng ADH trong máu của bạn. Xét nghiệm này thường được kết hợp với các xét nghiệm khác để tìm ra nguyên nhân gây ra quá nhiều hoặc quá ít hormone này trong máu.

3. Mục đích của xét nghiệm mức độ ADH

a. Xác định, theo dõi và chẩn đoán nguyên nhân của thiếu hoặc thừa ADH

Bác sĩ có thể chỉ định đơn cử xét nghiệm ADH hoặc cùng thực hiện cùng các xét nghiệm khác như một phần của nghiệm pháp ngừng nước hay nghiệm pháp chặn ADH khi bác sĩ nghi ngờ có vấn đề về sản xuất hoặc bài tiết ADH.

b. Đánh giá bệnh hạ Natri máu

Ngoài ra xét nghiệm này còn có thể được chỉ định khi bạn có lượng Natri thấp trong máu mà không rõ nguyên nhân. Hoặc khi bạn khi bạn có các triệu chứng dấu hiệu liên quan tới hội chứng tiết ADH không thích hợp (SIADH).

c. Chẩn đoán đái tháo nhạt

- Đái tháo nhạt trung ương: có liên quan với sự thiếu hụt ADH. Sự thiếu hụt này có thể do vùng dưới đồi hoặc bài tiết từ tuyến yên..., trong đó có thể do sự khiếm khuyết di truyền, chấn thương đầu, u não hay do nhiễm khuẩn gây ra viêm não hoặc viêm màng não.

- Đái tháo nhạt do thận: có nguồn gốc tại thận và có liên quan với sự thiếu đáp ứng của thận đối với ADH, làm mất khả năng cô đặc nước tiểu. Đái tháo nhạt do thận có thể do di truyền hoặc do một số bệnh thận.

d. Hội chứng SIADH

Nếu hội chứng SIADH phát triển âm thầm, có thể không có triệu chứng, nhưng nếu tình trạng này diễn ra một cách cấp tính, các dấu hiệu và triệu chứng đi kèm với tình trạng ứ nước có thể bao gồm: Đau đầu; Buồn nôn, nôn; Lú lẫn; Hôn mê và co giật trong những trường hợp nặng.

e. Nguyên nhân khác

Xét nghiệm ADH còn được thực hiện để đánh giá tình trạng thừa ADH do những bệnh lý khác gây ra.

Các bệnh lý này có thể bao gồm: Bệnh bạch cầu; Lymphoma; Ung thư phổi, tụy, bàng quang, và não; Các bệnh lý hệ thống làm tăng sản xuất ADH; Hội chứng Guillain Barre; Đa xơ cứng; Động kinh; Cơn porphyria  cấp (một rối loạn di truyền ảnh hưởng đến sự sản xuất heme, một thành phần quan trọng của máu); Bệnh xơ nang; Khí phế thủng; Mất nước, chấn thương sọ não, và phẫu thuật cũng có thể làm tăng nồng độ ADH.

Xét nghiệm ADH có thể được thực hiện khi bệnh nhân cảm thấy rất khát và đi tiểu thường xuyên để giúp bác sĩ xác định bệnh đái tháo nhạt.

Những bệnh nhân bị đái tháo nhạt trung ương (đái tháo nhạt có nguyên nhân là do những tổn thương vùng dưới đồi, tuyến yên) thường cảm thấy rất mệt mỏi bởi vì chu kì thức ngủ của họ bị gián đoạn vì phải thức dậy để đi tiểu. Nước tiểu của bệnh nhân thường trong, không hôi, và có nồng độ thẩm thấu thấp dưới mức bình thường.

4. Lưu ý các tác nhân có thể ảnh hưởng tới kết quả xét nghiệm

- Nếu bạn bị mất nước, giảm thể tích máu, hoặc căng thẳng quá mức có thể làm tăng nồng độ của ADH.

- Nếu bạn uống quá nhiều nước, giảm thẩm thấu huyết thanh, hoặc tăng thể tích máu có thể dẫn tới giảm nồng độ ADH.

- Nếu sử dụng ống tiêm thủy tinh hay ống nghiệm có thể làm suy giảm lượng ADH.

- Những loại thuốc sau làm tăng nồng độ ADH và có thể gây ra SIADH: acetaminophen (giảm đau, như panadol), barbiturates, carbamazepine (các thuốc gây mê), cholinergic agents (thuốc tác động lên hệ cholinergic), cyclophosphamide (một loại thuốc ức chế miễn dịch nhóm độc tế bào), một vài thuốc lợi tiểu (ví dụ, thiazides), estrogen, thuốc nhóm á phiện, nicotine, thuốc hạ đường huyết uống (đặc biệt là sulfonylureas), và thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI.

- Thuốc có khả năng làm giảm nồng độ ADH: cồn, beta-adrenergic, chất kháng morphine và phenytoin.

Xem thêm: Vai trò của hormone ADH

5. Quy trình thực hiện xét nghiệm hormone ADH như thế nào?

Bác sĩ sẽ lấy mẫu máu từ tĩnh mạch khi bạn đang trong tư thế ngồi hoặc nằm nghiêng và cho lượng máu đó vào ống nghiệm nắp đỏ được làm từ nhựa.

Nghiệm pháp chặn ADH cần đo mức natri huyết thanh gốc để tính nước cho bệnh nhân uống. Nước tiểu sau đó được thu thập trong điều kiện tỉ trọng và thẩm thấu cụ thể. Máu được thu thập cho sự thẩm thấu.

6. Nên làm gì sau khi thực hiện xét nghiệm hormone ADH?

- Sau khi lấy máu cần băng và ép lên vùng chọc tĩnh mạch lấy máu để giúp cầm máu.

- Lưu ý rằng các bác sĩ có thể làm đông lạnh huyết thanh và gửi chúng đến các phòng thí nghiệm để xét nghiệm.

- Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về quy trình thực hiện, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn và giải đáp.

7. Hướng dẫn đọc kết quả

Khoảng giá trị bình thường của kỹ thuật y tế này có thể không thống nhất tùy thuộc vào cơ sở thực hiện xét nghiệm mà bạn chọn.

a. Kết quả bình thường

- ADH: 1-5 pg/mL hoặc 1-5 ng/L (đơn vị SI)

- Nghiệm pháp chặn ADH (nghiệm pháp uống nước)

+ 65% lượng nước uống vào được bài tiết trong 4 tiếng

+ 80% lượng nước uống vào được bài tiết trong 5 tiếng

+ Độ thẩm thấu của nước tiểu (trong giờ thứ 2) ≤100 mmol/kg

+ Tỉ lệ độ thẩm thấu niệu/huyết thanh >100

+ Tỉ trọng nước tiểu <1.003

b. Kết quả bất thường

- Tăng nồng độ có thể do: Hội chứng tiết ADH không thích hợp (SIADH); Bệnh đái tháo nhạt do thận; Hậu phẫu từ ngày 1 tới ngày thứ 3; Căng thẳng thể chất nghiêm trọng như chấn thương hoặc đau đớn kéo dài; Giảm thể tích máu; Mất nước; Hội chứng porphyrin (phoryria) cấp tính.

- Giảm nồng độ có thể do: Bệnh đái tháo nhạt do hệ thần kinh trung ương; Phẫu thuật cắt bỏ tuyến yên; Tăng thể tích máu; Giảm độ thẩm thấu huyết thanh.

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BS Trịnh Ngọc Bình - Phó ban AloBacsi Cộng đồng

Đối tác AloBacsi

Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ

Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình

Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình

hoàn toàn MIỄN PHÍ

Khám bệnh online

X