Tim mạch học 2026: AI, thuốc tác động gen và chăm sóc từ xa sẽ bùng nổ
Tại Hội nghị khoa học “Xu hướng mới trong điều trị bệnh tim mạch năm 2026” (NTCC 2026), GS.TS.BS Trương Quang Bình đã điểm qua 5 xu hướng nổi bật được dự báo sẽ thay đổi sâu sắc cách phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch trong 5 - 10 năm tới. Trong đó, nhận diện nguy cơ sớm, thuốc tác động RNA, AI và chăm sóc sức khỏe từ xa được xem là những “làn sóng mới” đáng chú ý nhất.
Từ “điều trị bệnh” sang quản lý nguy cơ tim mạch từ rất sớm
GS.TS.BS Trương Quang Bình - Chủ tịch Hội đồng Khoa học Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM cho rằng, xu hướng quan trọng hàng đầu của tim mạch học hiện nay là nhận diện sớm và phòng ngừa sớm nguy cơ bệnh tim mạch, thay vì chờ đến khi người bệnh xuất hiện biến chứng mới điều trị.
Theo chuyên gia, từ năm 2023, y học đã nhấn mạnh đến hội chứng tim mạch - thận - chuyển hóa (Cardiovascular-Kidney-Metabolic syndrome). Hội chứng này diễn tiến qua nhiều giai đoạn, từ rất sớm cho đến giai đoạn nặng với các biến chứng tim mạch, thận và chuyển hóa nghiêm trọng.
Điều đáng chú ý là hiện nay, y học không còn chỉ đánh giá nguy cơ tim mạch ở người trên 40 tuổi như trước đây. Với thang điểm PREVENT ASCVD, việc phân tầng nguy cơ đã được mở rộng xuống nhóm từ 30 tuổi nhằm phát hiện sớm những người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong tương lai.
GS.TS.BS Trương Quang Bình nhấn mạnh, xu hướng mới không còn là “đợi có bệnh rồi chữa”, mà là quản lý nguy cơ tim mạch ngay từ sớm trong cộng đồng. Việc này bao gồm đánh giá yếu tố gen, lối sống, các dữ liệu sức khỏe cá nhân và ứng dụng AI để phân tầng nguy cơ thành các nhóm thấp, trung bình hoặc cao.
“Khi phân tầng được nguy cơ, chúng ta sẽ có can thiệp sớm. Xu hướng hiện nay là nhận diện sớm, chẩn đoán sớm và can thiệp sớm cho người bệnh”, chuyên gia cho biết.
Một trong những thay đổi lớn tiếp theo là sự phát triển của các nhóm thuốc mới tác động trực tiếp lên RNA hoặc cơ chế biểu hiện gen. Theo Giáo sư, thay vì chỉ điều trị triệu chứng như trước đây, các thuốc thế hệ mới đang hướng đến can thiệp sâu vào cơ chế sinh học gây bệnh.
Trong đó, kỹ thuật “làm im lặng gen” (gene silencing) đang được nghiên cứu mạnh mẽ. Cơ chế này tác động vào quá trình dịch mã từ mRNA để ngăn chặn cơ thể tạo ra các protein có hại hoặc thúc đẩy sản xuất các protein có lợi.
Một số thuốc đã được ứng dụng như inclisiran - thuốc ức chế tạo PCSK9 nhằm kiểm soát rối loạn lipid máu. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu mới đang tập trung vào Lp(a) - một yếu tố nguy cơ tim mạch di truyền khó kiểm soát trước đây.
GS.TS.BS Trương Quang Bình cho biết, nhiều nghiên cứu lớn dự kiến sẽ công bố kết quả vào giai đoạn 2028 - 2029 và có thể mở ra bước tiến mới trong điều trị tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu và nguy cơ tim mạch di truyền.
Cùng với đó, nhóm thuốc GLP-1 agonist cũng được dự báo sẽ “bùng nổ” trong 5 - 10 năm tới. Đây là nhóm thuốc đang được sử dụng rộng rãi trong điều trị đái tháo đường type 2 và béo phì.
Theo chuyên gia, GLP-1 agonist tác động lên não để giảm cảm giác thèm ăn, làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày, đồng thời ảnh hưởng đến insulin và glucagon tại tuyến tụy. Không chỉ dừng ở kiểm soát đường huyết hay cân nặng, nhóm thuốc này còn đang được nghiên cứu trên nhiều bệnh lý tim mạch như xơ vữa động mạch, suy tim phân suất tống máu bảo tồn hay gan nhiễm mỡ.
Chuyên gia nhận định, trong bối cảnh hội chứng tim mạch - thận - chuyển hóa ngày càng gia tăng, GLP-1 agonist có thể trở thành một trụ cột trong quản lý nguy cơ tim mạch chuyển hóa.
AI, can thiệp qua catheter và chăm sóc từ xa sẽ thay đổi diện mạo tim mạch học
Bên cạnh thuốc, GS.TS.BS Trương Quang Bình cho rằng, can thiệp tim mạch qua catheter đang phát triển mạnh trên toàn cầu.
Nếu trước đây các bệnh van tim chủ yếu phải phẫu thuật mở, hiện nay nhiều kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn đã được triển khai như thay van động mạch chủ qua da (TAVI/TAVR), kẹp van hai lá hoặc van ba lá bằng clip qua catheter.
Theo GS.TS.BS Trương Quang Bình, thị trường các thiết bị can thiệp cấu trúc tim đang tăng trưởng rất nhanh. Riêng lĩnh vực thay van tim qua ống thông được dự báo tăng mạnh trong những năm tới, không chỉ tại châu Âu, Mỹ mà cả khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Một xu hướng nổi bật khác là sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tim mạch học. Theo báo cáo, tính đến ngày 6/5/2026, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt khoảng 200 công cụ AI phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch.
AI hiện được ứng dụng trong phân tích hình ảnh tim mạch, điện tim, theo dõi bệnh nhân liên tục tại giường, thiết bị đeo thông minh, hệ gen và quản lý dữ liệu sức khỏe cá nhân.
"AI không thay thế bác sĩ, nhưng bác sĩ biết dùng AI sẽ thay thế bác sĩ không biết dùng AI, tạo ra lợi thế lớn trong thực hành lâm sàng tương lai", GS.TS.BS Trương Quang Bình nhấn mạnh.
Song song với AI là sự phát triển nhanh của mô hình chăm sóc sức khỏe từ xa (telehealth). Theo chuyên gia, trong tương lai, việc khám bệnh và theo dõi người bệnh sẽ không còn giới hạn trong “bốn bức tường” của bệnh viện.
Người bệnh có thể được tư vấn qua màn hình trực tuyến, theo dõi các chỉ số sức khỏe từ xa và được bác sĩ điều chỉnh điều trị kịp thời dù ở cách xa hàng trăm hoặc hàng ngàn cây số.

GS.TS.BS Trương Quang Bình cho biết, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM đã triển khai khám bệnh từ xa cho một số nhóm bệnh ổn định như tăng huyết áp. Mô hình này không chỉ giúp giảm tải cho bệnh viện mà còn hỗ trợ phát hiện sớm các biến cố tim mạch, giảm nguy cơ nhập viện và nâng cao hiệu quả quản lý bệnh mạn tính.
Chuyên gia cho rằng, trong 5 - 10 năm tới, tim mạch học sẽ thay đổi mạnh mẽ với 5 xu hướng lớn gồm: phòng ngừa sớm, thuốc tác động RNA và GLP-1 agonist, can thiệp qua catheter, AI trong thực hành lâm sàng và chăm sóc sức khỏe từ xa. Nhân viên y tế phải chuẩn bị để bước vào giai đoạn mới này, nếu không sẽ bị lạc hậu trong chăm sóc người bệnh tim mạch.
Bài viết có hữu ích với bạn?
Có thể bạn quan tâm
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ
Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
