"Nobel châu Á" vinh danh GS Nguyễn Thị Ngọc Phượng - Người đấu tranh cho nỗi đau da cam ở Việt Nam
Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay năm 2024 đã vinh danh nhà khoa học, GS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng - người đã dành cả đời để tìm hiểu tác hại của chất độc dioxin lên sức khỏe con người và sức khỏe sinh sản của các nạn nhân.
Ngày 31/8, Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay, được xem là giải "Nobel châu Á", vừa công bố 5 chủ nhân của giải năm nay, nhân kỷ niệm 117 năm ngày sinh của Tổng thống Philippines Ramón del Fierro Maqsaysay. Anh hùng lao động, Thầy thuốc Nhân dân, GS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng là một trong năm chủ nhân của giải thưởng mùa giải năm 2024. Lễ trao giải thưởng Ramon Magsaysay lần thứ 66 sẽ được tổ chức vào ngày 16/11, tại Nhà hát Metropolitan ở Manila, Philippines.
Theo Ban Quản trị Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay, GS Nguyễn Thị Ngọc Phượng đã có đóng góp trong việc nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc da cam/dioxin trên sức khỏe con người và sức khỏe sinh sản và những hoạt động đòi công lý cho nạn nhân da cam/dioxin cũng như có nhiều đóng góp giúp nạn nhân da cam/dioxin có cuộc sống tốt hơn.
Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay nhấn mạnh, công trình của GS Nguyễn Thị Ngọc Phượng là lời cảnh báo nghiêm trọng cho thế giới rằng hãy tránh chiến tranh bằng mọi giá vì hậu quả bi thảm của nó có thể kéo dài đến tận tương lai. Bà đưa ra bằng chứng rằng không bao giờ là quá muộn để sửa chữa sai lầm của chiến tranh và giành lại công lý cũng như sự cứu trợ cho những nạn nhân bất hạnh của nó.
Lần đầu tiên GS Nguyễn Thị Ngọc Phượng tiếp xúc với chất độc này là vào cuối những năm 1960 khi còn là bác sĩ nội trú, khi bà giúp đỡ các ca sinh nở bị dị tật bẩm sinh nghiêm trọng do ảnh hưởng kéo dài của chất hóa học cực độc này.
Trong một lần tìm đọc tài liệu y khoa, bà đã tình cờ đọc được một bản báo cáo khoa học về chủ đề này do Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ công bố vào năm 1974. Sau khi đọc xong, bà bắt đầu nghi ngờ rằng, dường như những trường hợp quái thai ở Việt Nam có liên quan đến hóa chất độc hại do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.
Để lý giải cho sự nghi ngờ này, năm 1982, bà đã thực hiện một nghiên cứu trên 1000 hộ gia đình ở xã Thanh Phong, huyện Thanh Phú, tỉnh Bến Tre. Kết quả cho thấy, những người sống trong vùng bị rải chất độc da cam sinh ra con dị tật cao gấp 3-4 lần. Năm 1983, bà đã cho công bố báo cáo này trên một tạp chí khoa học của Anh. Từ đó, bà bắt đầu quyết tâm theo đuổi việc nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chất độc da cam/dioxin đối với người Việt Nam.
Sau này, trên cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin của TPHCM và Việt Nam, bà đã đấu tranh không ngừng trong việc đưa tiếng nói của các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam ra thế giới, cũng như nỗ lực đấu tranh đòi công lý và lẽ phải cho họ.
Ngày 15/5/2008, Hạ viện Mỹ đã phải mở phiên điều trần với chủ đề “Trách nhiệm bị lãng quên! Chúng ta phải làm gì cho các nạn nhân da cam”. Tại phiên điều trần này, bà là nhà khoa học đầu tiên của Việt Nam được vào Hạ viện Mỹ để trình bày về vấn đề này. Sau đó, bà còn tham gia 2 phiên điều trần nữa tại Hạ viện Mỹ.
Tại phiên điều trần lần thứ ba, đại diện chính quyền Mỹ cho biết sẽ sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong việc cải tạo môi trường, khắc phục hậu quả do chất độc da cam/dioxin gây ra. Chương trình hành động giai đoạn 2010 - 2019 do Nhóm Đối thoại Việt - Mỹ về da cam/dioxin sẽ hỗ trợ 300 triệu USD (30 triệu USD/năm) để Việt Nam cải tạo những vùng đất bị ô nhiễm và tái phục hồi môi sinh bị hủy hoại, mở rộng dịch vụ giúp đỡ nạn nhân...
Bên cạnh đó, đi đến nước nào bà cũng kêu gọi hỗ trợ từ các tổ chức, các nước cho nạn nhân chất độc da cam. Bà đã kêu gọi xây dựng được 13 làng Hòa Bình trên cả nước, đây là nơi chăm sóc và nuôi dạy cho các cháu bị chất độc da cam.
Không chỉ được biết đến là một chuyên gia luôn đấu tranh cho quyền lợi của các nạn nhân chất độc da cam, GS Nguyễn Thị Ngọc Phượng còn là người khai phá, đặt nền móng cho công trình lịch sử "thụ tinh trong ống nghiệm". Hơn 20 năm trước, từ những đêm trường thao thức, GS Ngọc Phượng gói ghém từng đồng tiền lương để sang Pháp du học, quyết tâm đem kỹ thuật IVF về Việt Nam, mong biến giấc mơ làm mẹ của phụ nữ hiếm muộn thành hiện thực.
Thành công của kỹ thuật IVF mở ra cơ hội cho nhiều gia đình Việt, khi chi phí thực hiện thụ tinh ống nghiệm trong nước chỉ bằng 1/3 đến 1/5 so với nước ngoài. Hơn nữa, từ một trung tâm hỗ trợ sinh sản còn nhiều thiếu thốn ban đầu tại Bệnh viện Từ Dũ, đến nay, cả Việt Nam đã có gần 50 đơn vị Hỗ trợ sinh sản, hiếm muộn từ Nam ra Bắc.
Những tháng năm đó, trên đôi vai bác sĩ Phượng là khối lượng công việc khó có thể tưởng tượng được: Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, Viện trưởng Viện Tim TPHCM, Phó chủ tịch MTTQ thành phố, Đại biểu Quốc hội từ năm 1982 đến 1997, Hội Sản phụ khoa Việt Nam…
Song song đó, GS Ngọc Phượng cũng người đầu tiên mang kỹ thuật nội soi trong phụ khoa về Việt Nam. Nhờ sự giúp đỡ của Pháp, Khoa nội soi của Bệnh viện Từ Dũ được thành lập và đến nay, công trình này được công nhận là đứng đầu trong nước về kỹ thuật nội soi phụ khoa.
GS Ngọc Phượng còn được biết đến là "người khai sinh", "mẹ đẻ" của chương trình cô đỡ thôn bản, nhằm hạn chế tỷ lệ tử vong cho bà mẹ và trẻ sơ sinh vùng cao. Trải qua nhiều khó khăn, năm 2013, cô đỡ thôn bản chính thức được công nhận là một chức danh trong ngành y. Từ chỗ không biết xem đồng hồ, không biết tính toán giờ nở cổ tử cung của sản phụ…, các cô đỡ thôn bản đã rành rọt sau khóa huấn luyện. Về bản làng, các cô mang kiến thức đã học áp dụng, đỡ đẻ thành công nhiều ca khó.
Qua nhiều năm thực hiện, đến nay, gần 1.500 cô đỡ đã làm việc tại 20 tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên… Nhiều cô đỡ đã vào trạm y tế xã làm việc, là đảng viên, cán bộ xã… có tâm huyết, tiếp tục truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm đã học giúp ích cho bệnh nhân và xã hội. Tỷ lệ tử vong và tai biến cho mẹ và sơ sinh ở những nơi có cô đỡ thôn bản công tác đã giảm xuống rõ rệt cùng với sự giảm chung của cả nước.
Trong hơn 50 cống hiến cho ngành Y, những nỗ lực của GS Nguyễn Thị Ngọc Phượng đã đơm đầy hoa thơm và quả ngọt. Những tiến bộ khoa học như thụ tinh trong ống nghiệm, phát hiện sớm điều trị ung thư cổ tử cung… mà bà dày công nghiên cứu được áp dụng hiệu quả; những chương trình giá trị nhân văn vẫn tiếp tục được lan tỏa, không chỉ viết nên kỳ tích trong nước mà còn được công nhận ở châu Á và thế giới.
|
Ramon Magsaysay là giải thưởng thường niên, được thành lập vào năm 1957 và đặt theo tên của vị tổng thống Philippines đã qua đời trong một vụ tai nạn máy bay. Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay được thành lập để vinh danh tổng thống thứ 7 của Cộng hòa Philippines - Tổng thống Ramon Magsaysay. Được mệnh danh là "giải Nobel châu Á", Giải thưởng Ramon Magsaysay nhằm mục đích tôn vinh những người đã "phục vụ quên mình vì sự phát triển của các dân tộc châu Á". Cho đến nay, quỹ đã trao giải thưởng cho 322 cá nhân và 26 tổ chức đã tạo thành cộng đồng những người đoạt Giải thưởng Magsaysay. Giải thưởng Magsaysay được coi là giải thuởng uy tín hàng đầu và vinh dự cao nhất của châu Á. Năm 2024, ngoài GS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Giải thưởng Ramon Magsaysay năm nay thuộc về 3 cá nhân đến từ Indonesia, Bhutan, Nhật Bản và Phong trào bác sĩ Nông thôn của Thái Lan. Chủ tịch Quỹ Giải thưởng này, Susanna B. Afan khẳng định, giải thưởng năm nay tôn vinh những người thách thức hiện trạng bằng sự chính trực, lòng dũng cảm, đối mặt với bất công, chuyển đổi các lĩnh vực quan trọng thông qua các giải pháp đột phá thúc đẩy tiến bộ xã hội và giải quyết các vấn đề toàn cầu cấp bách với khả năng phục hồi không lay chuyển. |
Bài viết có hữu ích với bạn?
Có thể bạn quan tâm
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ
Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
