Các xét nghiệm chẩn đoán Helicobacter Pylori
Các xét nghiệm chẩn đoán sự hiện diện của H.pylori trong dạ dày được chia thành 2 nhóm: xét nghiệm xâm lấn và xét nghiệm không xâm lấn.
Chẩn đoán chính xác tình trạng nhiễm Helicobacter pylori (H.pylori) là một trong những mục tiêu quan trọng để điều trị nhiều tình trạng bệnh lý được cho là liên quan tới loại vi khuẩn này, đặc biệt là trong viêm loét dạ dày - tá tràng.
Cần nắm bắt được các biện pháp xét nghiệm chẩn đoán, ưu nhước điểm của từng phương pháp, điều kiện để đảm bảo cho xét nghiệm đạt độ chính xác cao nhất để vận dụng trong từng tình huống, tùy theo bệnh nhân cụ thể.
Các xét nghiệm chẩn đoán sự hiện diện của H.pylori trong dạ dày được chia thành 2 nhóm: xét nghiệm xâm lấn và xét nghiệm không xâm lấn.
Các xét nghiệm xâm lấn:
Liên quan đến việc nội soi dạ dày và lấy một mẫu niêm mạc dạ dày. Ưu điểm của nội soi là giúp đánh giá toàn diện hình ảnh bệnh lý, vị trí biến đổi niêm mạc đường tiêu hóa trên.
Cần nắm bắt được các biện pháp xét nghiệm chẩn đoán, ưu nhước điểm của từng phương pháp, điều kiện để đảm bảo cho xét nghiệm đạt độ chính xác cao nhất để vận dụng trong từng tình huống, tùy theo bệnh nhân cụ thể.
Các xét nghiệm chẩn đoán sự hiện diện của H.pylori trong dạ dày được chia thành 2 nhóm: xét nghiệm xâm lấn và xét nghiệm không xâm lấn.
Các xét nghiệm xâm lấn:
Liên quan đến việc nội soi dạ dày và lấy một mẫu niêm mạc dạ dày. Ưu điểm của nội soi là giúp đánh giá toàn diện hình ảnh bệnh lý, vị trí biến đổi niêm mạc đường tiêu hóa trên.
Hình minh họa nội soi dạ dày
Nuôi cấy vi khuẩn: pylori có thể được nuôi cấy trực tiếp từ các mẫu sinh thiết. Phương pháp này còn giúp thực hiện kháng sinh đồ để chọn ra kháng sinh hữu hiệu diệt trừ được H.pylori. Điều này ngày càng quan trọng, do tỉ lệ đề kháng với kháng sinh thường dùng hiện nay đang ngày càng cao. Tuy nhiên, kĩ thuật này cần được thực hiện ở những trung tâm y tế với đầy đủ trang bị, tuân thủ quy trình kĩ thuật xử lý và bảo quản mẫu niêm mạc, và đòi hỏi thời gian vài ngày (vì cần 7-10 ngày để chắc chắn nếu vi khuẩn không mọc).
Hình minh họa các cụm vi khuẩn H.pylori mọc trên thạch agar sau 3 ngày nuôi cấy
Mô học: pylori có thể được nhận diện khi sử dụng một loạt các kĩ thuật nhuộm miễn dịch hoặc tiêu chuẩn (như nhuộm Giemsa). Ưu điểm của xét nghiệm mô học là cho phép đồng thời xác định bệnh lý khác của dạ dày như chuyển sản ruột và các biểu hiện ác tính. Tuy nhiên phương pháp này có thể sai sót do phụ thuộc vào mật độ và sự phân bố vi khuẩn.
Hình ảnh minh họa phát hiện H.pylori nhờ phương pháp mô học
Xét nghiệm Urease: Khả năng của H.pylori sản xuất lượng lớn urease cho phép áp dụng kĩ thuật xét nghiệm này, vừa rẻ tiền, đơn giản và cho kết quả nhanh. Tên gọi thường dùng tại các phòng nội soi hiện nay là Clotest. Kết quả cần được đọc trong vòng 2 giờ, để lâu hơn thì có thể dương tính giả. Các tình trạng viêm dạ dày teo hoặc sử dụng thuốc ức chế tiết axit dạ dày (PPI) có thể làm giảm độ axit trong dạ dày, từ đó làm bất hoạt men urease, dẫn tới kết quả âm tính giả.
Hình minh họa kết quả Clotest (màu hồng: dương tính, có vi khuẩn, màu vàng: âm tính, không phát hiện vi khuẩn)
Xét nghiệm phân tử/ PCR: Ưu điểm của phương pháp này là cho phép định lượng vi khuẩn và xác định các chủng hoạt động. Tuy nhiên, kĩ thuật này chỉ có ở một số phòng xét nghiệm kĩ thuật cao, và chưa áp dụng rộng rãi.
Các xét nghiệm không xâm lấn:
Xét nghiệm huyết thanh (máu): Không phụ thuộc vào độ axit trong dạ dày (như xét nghiệm mô hay urease đã trình bày ở trên). Các kháng thể IgG tồn tại trong huyết thanh người nhiễm H.pylori trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, ngay cả khi vi khuẩn H.pylori trong dạ dày đã bị tiệt trừ hoàn toàn.
Do đó, việc xét nghiệm huyết thanh dương tính cũng không biết được liệu đang nhiễm vi khuẩn hoạt động hay nhiễm trong quá khứ. Các xét nghiệm kháng thể IgM và IgA là bằng chứng về nhiễm khuẩn hoạt động, tuy nhiên các kháng thể này không tồn tại bền vững nên việc áp dụng cũng bị hạn chế. Các hướng dẫn thực hành hiện nay không khuyến cáo sử dụng thường qui xét nghiệm huyết thanh để chẩn đoán nhiễm H.pylori.
Xét nghiệm hơi thở urease: Tương tự kĩ thuật mô học, xét nghiệm này dựa trên việc vi khuẩn sản xuất ra men urease. Urea được đánh dấu bởi đồng vị không hoạt tính phóng xạ (thường là C13) cho bệnh nhân uống. Khi dạ dày có chứa vi khuẩn H.pylori, đồng vị này được giải phóng, rồi được gom lại khi bệnh nhân thở ra (thổi hơi vào một túi chứa). Mẫu hơi có thể để được ổn định trong 7 ngày sau khi thu thập.
Có thể thực hiện xét nghiệm này ở phòng xét nghiệm hay thậm chí ngay tại phòng khám. Giảm độ axit trong dạ dày có thể khiến các vi khuẩn khác không phải H.pylori cũng tồn tại và tiết ra urease (chẳng hạn trong trường hợp viêm dạ dày teo giảm tiết axit dạ dày, hội chứng sinh trưởng thừa của vi khuẩn) dẫn tới kết quả xét nghiệm dương tính giả.
Các xét nghiệm không xâm lấn:
Xét nghiệm huyết thanh (máu): Không phụ thuộc vào độ axit trong dạ dày (như xét nghiệm mô hay urease đã trình bày ở trên). Các kháng thể IgG tồn tại trong huyết thanh người nhiễm H.pylori trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, ngay cả khi vi khuẩn H.pylori trong dạ dày đã bị tiệt trừ hoàn toàn.
Do đó, việc xét nghiệm huyết thanh dương tính cũng không biết được liệu đang nhiễm vi khuẩn hoạt động hay nhiễm trong quá khứ. Các xét nghiệm kháng thể IgM và IgA là bằng chứng về nhiễm khuẩn hoạt động, tuy nhiên các kháng thể này không tồn tại bền vững nên việc áp dụng cũng bị hạn chế. Các hướng dẫn thực hành hiện nay không khuyến cáo sử dụng thường qui xét nghiệm huyết thanh để chẩn đoán nhiễm H.pylori.
Xét nghiệm hơi thở urease: Tương tự kĩ thuật mô học, xét nghiệm này dựa trên việc vi khuẩn sản xuất ra men urease. Urea được đánh dấu bởi đồng vị không hoạt tính phóng xạ (thường là C13) cho bệnh nhân uống. Khi dạ dày có chứa vi khuẩn H.pylori, đồng vị này được giải phóng, rồi được gom lại khi bệnh nhân thở ra (thổi hơi vào một túi chứa). Mẫu hơi có thể để được ổn định trong 7 ngày sau khi thu thập.
Có thể thực hiện xét nghiệm này ở phòng xét nghiệm hay thậm chí ngay tại phòng khám. Giảm độ axit trong dạ dày có thể khiến các vi khuẩn khác không phải H.pylori cũng tồn tại và tiết ra urease (chẳng hạn trong trường hợp viêm dạ dày teo giảm tiết axit dạ dày, hội chứng sinh trưởng thừa của vi khuẩn) dẫn tới kết quả xét nghiệm dương tính giả.
Minh họa xét nghiệm thổi hơi xác định sự hiện diện của H.pylori trong dạ dày
Xét nghiệm kháng nguyên trong phân: Sự tồn tại của H.pylori trong phân có thể được đánh giá trực tiếp bằng xét nghiệm miễn dịch. Xét nghiệm này bao gồm việc sử dụng kháng thể đơn dòng (nhằm tăng khả năng chẩn đoán chính xác). Hạn chế kĩ thuật bao gồm tính bất ổn định của mẫu phân (cần được bảo quản lạnh trong vòng 24 tiếng; cần được đựng trong một hộp chứa không có chất bảo quản). Một số bộ xét nghiệm không áp dụng được trong trường hợp tiêu phân lỏng. Kháng nguyên của H.pylori có thể còn tồn tại trong phân tới 8 tuần sau khi vi khuẩn đã được tiệt trừ, dẫn tới kết quả dương tính giả.
Lựa chọn kĩ thuật xét nghiệm nào?
Phương pháp nuôi cấy có thể dành cho trường hợp cần thông tin về độ nhạy với kháng sinh (kháng sinh đồ) để chọn kháng sinh tiệt trừ H.pylori.
Xét nghiệm mô học lý tưởng trong trường hợp cần loại trừ các bệnh lý ác tính của dạ dày. Phát hiện thấy dấu hiệu chuyển sản niêm mạc ruột có thể là chỉ định để theo dõi và điều trị.
Xét nghiệm hơi thở urease hoặc xét nghiệm tìm kháng nguyên trong phân có ưu điểm là giá thành thấp, thích hợp khi bệnh nhân không có triệu chứng hoặc bị chứng khó tiêu (dyspepsia), bởi đó là những bệnh nhân có thể có lợi nhờ tiệt trừ thành công H.pylori (phòng ngừa ung thư dạ dày, bệnh loét). Những test này cũng được ưu tiên để kiểm tra lại vi khuẩn sau khi bệnh nhân đã uống phác đồ tiệt trừ H.pylori).
Xét nghiệm huyết thanh không được khuyến cáo sử dụng thường qui, nhưng có thể có ích trong trường hợp những xét nghiệm không xâm lấn khác cho kết quả không rõ ràng.
Các thuốc ức chế tiết axit dạ dày (PPI) gây giảm sự phân bố và mật độ vi khuẩn H.pylori.
- Trong 1/3 các trường hợp, vi khuẩn sẽ không được tìm thấy ở vùng hang vị, và 1/3 trường hợp sẽ có kết quả âm tính giả thậm chí nếu sinh thiết tất cả các vị trí trong dạ dày.
- Giảm mật độ vi khuẩn cũng sẽ ảnh hưởng tới khả năng phát hiện kháng nguyên của H.pylori trong phân.
- Giảm độ axit trong dạ dày sẽ làm bất hoạt hoạt tính urease vi khuẩn, từ đó ảnh hưởng tới xét nghiệm hơi thở và và các mẫu sinh thiết.
- Nên ngưng sử dụng các thuốc PPI ít nhất 2 tuần trước khi xét nghiệm bằng các phương pháp hơi thở, hay xét nghiệm có sử dụng đến các mẫu sinh thiết.
- Các thuốc thuộc nhóm Anti-H2 (Ranitidine, Famotidine) cũng nên ngưng ít nhất 24 giờ trước khi làm xét nghiệm ( có tài liệu khuyến cáo cũng nên ngưng nhóm thuốc này ít nhất 2 tuần)
Các kháng sinh có thể át chế sự hiện diện của H.pylori, từ đó gây ra kết quả xét nghiệm âm tính giả. Do đó, các xét nghiệm chỉ nên được thực hiện sau khi đã ngưng sử dụng kháng sinh ít nhất 4 tuần.
Thuốc Bismuth cũng có các thuộc tính kháng khuẩn, do đó cũng nên ngưng trước khi xét nghiệm H.pylori
Trường hợp xuất huyết tiêu hóa: Độ nhạy của xét nghiệm mô học và các xét nghiệm có dựa trên men urease đều bị giảm trong lúc đang xuất huyết tiêu hóa trên cấp tính.
Để xét nghiệm chẩn đoán H.pylori chính xác:
- Cần ngưng các thuốc PPI ít nhất 2 tuần trước khi xét nghiệm
- Cần ngưng các kháng sinh ít nhất 4 tuần trước khi xét nghiệm
- Cần chờ ít nhất 8 tuần sau khi kết thúc liệu trình điều trị tiệt trừ H.pylori để kiểm tra kết quả điều trị.
- Cần lấy đủ các mẫu sinh thiết (lý tưởng là 2 mẫu tại 2 vị trí khác nhau của hang vị + 2 mẫu tại 2 vị trí khác nhau vùng thân vị).
Lựa chọn kĩ thuật xét nghiệm nào?
Phương pháp nuôi cấy có thể dành cho trường hợp cần thông tin về độ nhạy với kháng sinh (kháng sinh đồ) để chọn kháng sinh tiệt trừ H.pylori.
Xét nghiệm mô học lý tưởng trong trường hợp cần loại trừ các bệnh lý ác tính của dạ dày. Phát hiện thấy dấu hiệu chuyển sản niêm mạc ruột có thể là chỉ định để theo dõi và điều trị.
Xét nghiệm hơi thở urease hoặc xét nghiệm tìm kháng nguyên trong phân có ưu điểm là giá thành thấp, thích hợp khi bệnh nhân không có triệu chứng hoặc bị chứng khó tiêu (dyspepsia), bởi đó là những bệnh nhân có thể có lợi nhờ tiệt trừ thành công H.pylori (phòng ngừa ung thư dạ dày, bệnh loét). Những test này cũng được ưu tiên để kiểm tra lại vi khuẩn sau khi bệnh nhân đã uống phác đồ tiệt trừ H.pylori).
Xét nghiệm huyết thanh không được khuyến cáo sử dụng thường qui, nhưng có thể có ích trong trường hợp những xét nghiệm không xâm lấn khác cho kết quả không rõ ràng.
Các thuốc ức chế tiết axit dạ dày (PPI) gây giảm sự phân bố và mật độ vi khuẩn H.pylori.
- Trong 1/3 các trường hợp, vi khuẩn sẽ không được tìm thấy ở vùng hang vị, và 1/3 trường hợp sẽ có kết quả âm tính giả thậm chí nếu sinh thiết tất cả các vị trí trong dạ dày.
- Giảm mật độ vi khuẩn cũng sẽ ảnh hưởng tới khả năng phát hiện kháng nguyên của H.pylori trong phân.
- Giảm độ axit trong dạ dày sẽ làm bất hoạt hoạt tính urease vi khuẩn, từ đó ảnh hưởng tới xét nghiệm hơi thở và và các mẫu sinh thiết.
- Nên ngưng sử dụng các thuốc PPI ít nhất 2 tuần trước khi xét nghiệm bằng các phương pháp hơi thở, hay xét nghiệm có sử dụng đến các mẫu sinh thiết.
- Các thuốc thuộc nhóm Anti-H2 (Ranitidine, Famotidine) cũng nên ngưng ít nhất 24 giờ trước khi làm xét nghiệm ( có tài liệu khuyến cáo cũng nên ngưng nhóm thuốc này ít nhất 2 tuần)
Các kháng sinh có thể át chế sự hiện diện của H.pylori, từ đó gây ra kết quả xét nghiệm âm tính giả. Do đó, các xét nghiệm chỉ nên được thực hiện sau khi đã ngưng sử dụng kháng sinh ít nhất 4 tuần.
Thuốc Bismuth cũng có các thuộc tính kháng khuẩn, do đó cũng nên ngưng trước khi xét nghiệm H.pylori
Trường hợp xuất huyết tiêu hóa: Độ nhạy của xét nghiệm mô học và các xét nghiệm có dựa trên men urease đều bị giảm trong lúc đang xuất huyết tiêu hóa trên cấp tính.
Để xét nghiệm chẩn đoán H.pylori chính xác:
- Cần ngưng các thuốc PPI ít nhất 2 tuần trước khi xét nghiệm
- Cần ngưng các kháng sinh ít nhất 4 tuần trước khi xét nghiệm
- Cần chờ ít nhất 8 tuần sau khi kết thúc liệu trình điều trị tiệt trừ H.pylori để kiểm tra kết quả điều trị.
- Cần lấy đủ các mẫu sinh thiết (lý tưởng là 2 mẫu tại 2 vị trí khác nhau của hang vị + 2 mẫu tại 2 vị trí khác nhau vùng thân vị).
Theo ThS. BS Nguyễn Hữu Chung
Giảng viên Đại học Y dược TPHCM
Phòng khám đa khoa Ngọc Minh
Giảng viên Đại học Y dược TPHCM
Phòng khám đa khoa Ngọc Minh
Bài viết có hữu ích với bạn?
Có thể bạn quan tâm
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ
Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình





