Logo Alobacsi

Phẫu thuật thay thế van tim: Nên chọn loại nào, ưu và nhược điểm ra sao?

Lựa chọn van tim nhân tạo phù hợp là hết sức quan trọng do đó người bệnh cần hiểu rõ các ưu nhược điểm của các loại van tim nhân tạo
Phẫu thuật thay thế van tim đang ngày càng trở nên phổ biến hơn, và gần gũi hơn với cộng đồng. Hai van tim thường được thay thế nhất nằm ở tim bên trái, được gọi là van hai lá và van động mạch chủ.

Có nhiều loại vật liệu được sử dụng để thay thế các van trên, trong đó phổ biến nhất là van tim cơ học (mechanical valve) và van tim sinh học (biological valve, tissue valve), bên cạnh đó còn có các mảnh ghép đồng loài (homograft) được lấy từ mô của người hiến.

Chọn lựa loại van tốt nhất để thay thế không dễ dàng, vì cho đến thời điểm hiện tại, chưa có van nhân tạo nào được xem là tốt nhất cho tất cả bệnh nhân trong mọi hoàn cảnh.

Chính vì vậy, khi phẫu thuật thay thế van tim, bác sĩ phải cân nhắc từng ưu điểm, nhược điểm ở mỗi trường hợp cụ thể để giải thích với bệnh nhân và gia đình và chọn lựa loại van thay thế phù hợp nhất.

Ưu điểm và nhược điểm van cơ học


Van cơ học được sử dụng hiện nay thường có cấu trúc hai lá van, được làm từ carbon (pyrolytic carbon) hoặc Titanium phủ pyrolytic carbon.

Nhờ được làm từ vật liệu nhân tạo, ưu điểm lớn nhất của van cơ học đến nay là độ bền của van (durability), van cơ học về lý thuyết có thể tồn tại đến suốt đời của bệnh nhân mà không bị ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng.

Tuy vậy, cũng vì được làm từ vật liệu nhân tạo, nhược điểm lớn nhất của loại van này là đòi hỏi bệnh nhân phải sử dụng kháng đông, cũng đến suốt đời. Thuốc kháng đông thường đi kèm với nhiều nguy cơ, nếu bệnh nhân sử dụng quá liều, có thể bị xuất huyết nhiều nơi như da (các vết bầm tím), đường tiêu hóa (xuất huyết tiêu hóa), đường tiết niệu (tiểu ra máu) và nặng nề nhất là xuất huyết não, có thể dẫn đến tàn phế nặng nề hoặc tử vong cho người bệnh.

Ngược lại, dùng thuốc kháng đông không đủ liều sẽ làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông trên lá van cơ học, ảnh hưởng hoạt động của van, nặng nề nhất là gây kẹt van và có thể dẫn đến tử vong nếu không được can thiệp kịp thời, hoặc cục máu đông có thể bung ra và theo động mạch gây nhồi máu các cơ quan, nguy hiểm nhất là nhồi máu não.

Thuốc kháng đông cũng làm phức tạp các trường hợp phẫu thuật ngoài tim ở các bệnh nhân đã được thay van cơ học, hoặc bệnh nhân khởi phát bệnh cần chống chỉ định kháng đông (xuất huyết não, xuất huyết tiêu hóa…).

Để đánh giá liều lượng kháng đông cần sử dụng, bác sĩ dùng chỉ số INR (International Normalized Ratio), như tên gọi, đây là chỉ số được chuẩn hóa quốc tế, giúp bệnh nhân thuận tiện trong việc theo dơi khi di chuyển những khoảng cách xa. Chỉ số INR thích hợp đối với van hai lá cơ học là 2.5 - 3.5. Chỉ số INR thích hợp với van động mạch chủ cơ học là 2 - 3.

Hiện nay, các loại van cơ học mới đòi hỏi chỉ số INR thấp hơn, đồng nghĩa với liều kháng đông thấp hơn và nguy cơ thấp hơn cho người bệnh. Bên cạnh đó, những thế hệ thuốc kháng đông mới giúp duy tŕ 1 mức độ INR ổn định với 1 liều nhất định, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài cũng giúp việc sử dụng kháng đông an toàn hơn.

Ưu điểm cuối cùng của van cơ học là rẻ tiền hơn, so với van sinh học, van cơ học chỉ có giá bằng một nửa.

Ưu và nhược điểm của van sinh học


Khác với van cơ học được làm từ vật liệu nhân tạo, van sinh học được làm từ vật liệu tự nhiên, thường là từ màng tim heo hoặc màng tim ḅ đã được xử lý.

Chính vì vậy, ưu điểm lớn nhất của van sinh học là không cần phải sử dụng kháng đông suốt đời. Bác sĩ thường ngưng kháng đông cho bệnh nhân sau phẫu thuật 3 tháng, đây là thời gian cần thiết để nội mạc hóa các vật liệu nhân tạo, và nguy cơ tạo huyết khối cũng không c̣n.

Nhược điểm lớn nhất của van sinh học là mô van tự nhiên dị loài sẽ thoái hóa theo thời gian, ảnh hưởng đến hoạt động của van và sẽ gây tình trạng tái hẹp/ hở van nhân tạo. Vì vậy, sau một khoảng thời gian, bệnh nhân thường cần phẫu thuật lại để thay van mới.

Mức độ thoái hóa van lệ thuộc vào tuổi của người bệnh và áp lực tác dụng lên van (stress load), bệnh nhân càng trẻ tuổi, van thoái hóa càng nhanh. Ở trẻ em, 50% van sẽ bị hư sau 4 năm và 80% sau 6 năm. Ở người > 60 tuổi, 5% van sẽ thoái hóa sau 5 năm, 20% sau 8 năm và 30% sau 10 năm. Và ở người > 70 tuổi, tỉ lệ van thoái hóa sau 15 năm chỉ chiếm 3 - 10%.

Nguồn: Trung tâm tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

Bạn cần biết



Thí sinh có nên uống thuốc bổ tăng cường thể lực mùa thi?

Thời tiết nắng nóng, học hành căng thẳng để chuẩn bị cho kỳ thi THPT quốc gia, nhiều phụ huynh tìm mua các loại thuốc bổ để tăng cường thể lực cho con. Tuy nhiên, theo cảnh báo của bác sĩ, không phải loại thuốc nào cũng hỗ trợ tốt cho quá trình học tập của học sinh.

MT cup

Đối tác

Hỗ trợ 24/7