Kiểm soát vảy nến an toàn, lâu dài bằng liệu pháp Y học cổ truyền
Vảy nến là bệnh da mạn tính không lây, thường khởi phát ở người trẻ và dễ tái phát nhiều lần, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Bên cạnh điều trị bằng Y học hiện đại, Y học cổ truyền mang lại hướng tiếp cận khác biệt với ưu điểm cá thể hóa cho từng người bệnh.
Theo ThS.BS Nguyễn Thị Quý - Phòng khám Da - Thẩm mỹ YHCT, Bệnh viện Đại học Y Dược (cơ sở 3), vảy nến là một bệnh viêm da mạn tính, tiến triển theo từng đợt, đặc trưng bởi các dát, sẩn đỏ ranh giới rõ, bề mặt có nhiều vảy trắng dày, dễ bong. Bệnh có thể gây tổn thương ở móng, khớp và nhiều cơ quan khác. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), vảy nến được xếp vào nhóm bệnh không lây nhưng nghiêm trọng, ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống với khoảng 3% dân số thế giới mắc phải.
Một trường hợp điển hình là bệnh nhân nữ 25 tuổi mắc bệnh 4 năm, xuất hiện mảng đỏ vùng lưng, ngực, ngứa nhiều. Người bệnh đã từng điều trị bằng corticoid bôi và acid salicylic nhưng tình trạng chỉ thuyên giảm tạm thời rồi tái phát. Khi đến khám tại phòng khám Da - Thẩm mỹ Y học cổ truyền, bệnh nhân được ghi nhận có mảng đỏ tươi, vảy trắng mỏng dễ bong, ngứa tăng về đêm, kèm cảm giác nóng trong, khát nước mát, tiểu vàng sậm, rối loạn kinh nguyệt. Sau khi được điều trị bằng thảo dược uống kết hợp bôi ngoài, sang thương da mỏng dần, hết ngứa, kinh nguyệt trở lại bình thường và tình trạng khô khát cải thiện rõ rệt.

Theo Y học hiện đại, vảy nến là bệnh rối loạn miễn dịch, thường khởi phát ở người có yếu tố di truyền kết hợp với các tác nhân như stress, nhiễm trùng, chấn thương da hoặc môi trường. Bệnh nhân không được chữa khỏi hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát bằng thuốc và chăm sóc phù hợp.
Trong quan niệm Y học cổ truyền (YHCT), vảy nến xuất hiện khi chính khí suy, ngoại tà như gió, lạnh, nóng, ẩm xâm nhập gây rối loạn vệ khí và huyết dịch. Quá trình bệnh tiến triển qua nhiều thể: Thể Huyết nhiệt (giai đoạn đầu, tiến triển nhanh): Da nổi nhiều mảng đỏ tươi, nóng rát, vảy trắng mỏng, dễ bong, thường kèm nóng trong, khát nước, tiểu vàng. Thể Huyết ứ (mạn tính, ổn định): Da dày cộm, đỏ sậm hoặc tím, vảy dày, bám chắc, ngứa dai dẳng, sắc mặt xám xịt. Thể Huyết táo (ổn định hoặc thoái lui): Da khô, nứt nẻ, bong tróc nhiều, ít đỏ, ít ngứa, mất độ ẩm. Thể Huyết hư (mạn tính, giai đoạn cuối): Da mỏng, nhăn nheo, khô ráp, ngứa nhiều về đêm, người mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ.

Điều trị YHCT dựa vào thăm khám toàn diện về da, mạch, lưỡi, thể trạng để xác định thể bệnh. Người bệnh có thể được kê thuốc thảo dược uống, bôi ngoài, tắm, ngâm kết hợp châm cứu. Ưu điểm của YHCT là khả năng gia giảm bài thuốc tùy chứng, bởi nhiều bệnh nhân vảy nến còn kèm theo tình trạng âm hư, khí hư, Tỳ hư, Can hư hoặc Thận hư. Nhờ đó, YHCT mang tính cá thể hóa, phù hợp cho từng bệnh nhân.
Người bệnh cần lưu ý vảy nến có thể chuyển từ thể này sang thể khác theo thời gian. Nếu không điều trị đúng và kịp thời, bệnh có nguy cơ tiến triển nặng hơn và tái phát nhiều lần. Việc khám định kỳ để bác sĩ theo dõi, điều chỉnh phác đồ, kết hợp giữa Đông - Tây y và điều chỉnh lối sống là cần thiết để kiểm soát bệnh hiệu quả, lâu dài.
Bài viết có hữu ích với bạn?
Có thể bạn quan tâm
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ
Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
