Hơn 80% trẻ dưới 5 tuổi nhập viện vì biến chủng Omicron, bột sắn dây có thải độc tố COVID-19?
Đây là những thông tin có trong bản tin sáng ngày 30/3/2022 trên AloBacsi.
Phụ nữ mang thai mắc COVID-19, theo dõi sức khỏe thế nào?
Ngày 28/3, Bộ Y tế ban hành Quyết định 775/QĐ-BYT 2022 Hướng dẫn chăm sóc, quản lý tại nhà đối với phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú và trẻ sơ sinh mắc COVID-19.
Trong đó, đối với phụ nữ mang thai, để được điều trị tại nhà phải là người chưa có chỉ định chấm dứt thai kỳ, chưa có dấu hiệu chuyển dạ. Không có một trong các dấu hiệu cấp cứu hoặc bất thường sản khoa như:
- Đau bụng liên tục và/hoặc tăng dần
- Ra máu âm đạo
- Ra nước ối
- Ngất hoặc co giật
- Phù mặt, chân, tay
- Đau đầu, nhìn mờ
- Không có cử động thai (đối với thai > 20 tuần) hoặc cử động thai yếu hơn bình thường hoặc có bất kỳ dấu hiệu bất thường khác.
Theo dõi sức khỏe phụ nữ mang thai mắc COVID-19 tại nhà:
- Đo thân nhiệt ít nhất 2 lần/ngày vào buổi sáng, buổi chiều và khi có dấu hiệu bất thường. Đếm nhịp thở, đếm mạch, SpO2 và huyết áp (nếu có thể) hàng ngày;
- Các dấu hiệu của thai kỳ: cử động thai; các dấu hiệu bất thường về sản khoa.
- Thông báo ngay với nhân viên y tế hoặc đến khám tại cơ sở y tế khi có một trong các dấu hiệu bất thường.
Về quản lý thai, chăm sóc thai nghén, cần:
- Duy trì khám thai định kỳ. Ngoài ra, khám thai vào bất kỳ thời điểm nào nếu phát hiện dấu hiệu bất thường hoặc khi có chỉ định của nhân viên y tế.
- Nếu thai phụ mắc COVID-19 đến ngày hẹn khám thai và không có các dấu hiệu bất thường về sản khoa, có thể khám thai từ xa hoặc tư vấn thai phụ đợi đến ngày hết cách ly.
- Thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh, vận động và tập thể dục, bổ sung vi chất dinh dưỡng, không sử dụng thuốc lá và tiếp xúc với khói thuốc thụ động, không sử dụng rượu, bia và các chất kích thích, chất gây nghiện khác.
- Duy trì bổ sung sắt/axit folic hoặc viên đa vi chất theo hướng dẫn của nhân viên y tế (tạm dừng khi có các triệu chứng nôn, tiêu chảy).
Đối với bà mẹ trong thời kỳ hậu sản và bà mẹ cho con bú, cần thông báo ngay với nhân viên y tế hoặc đến khám tại cơ sở y tế khi có một trong các dấu hiệu bất thường như: Ra máu tăng dần hoặc có máu cục; Sản dịch có mùi hôi; Đau bụng dữ dội hoặc đau âm ỉ, tăng dần.
Vết khâu tầng sinh môn (đối với sinh thường) hoặc sẹo mổ đẻ có khối bất thường, tăng kích thước hoặc chảy mủ; Sốt >38°C, không giảm sau khi dùng thuốc hạ sốt, hoặc sốt không cải thiện sau 48 giờ.
Phù mặt, chân, tay hoặc nhìn mờ, đau đầu nhiều; Co giật; Vú: sưng, nóng, đỏ đau hoặc chảy mủ; Hoặc có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào khác.
Với trẻ sơ sinh, không nhất thiết phải làm xét nghiệm COVID-19 thường xuyên cho tất cả trẻ sơ sinh, kể cả khi người chăm sóc trẻ mắc COVID-19.
Trường hợp cả mẹ và trẻ sơ sinh đều được xác định mắc COVID-19, cần duy trì cho trẻ bú mẹ. Nếu trẻ ngạt mũi khó bú, vệ sinh mũi cho trẻ trước khi cho bú. Nếu trẻ không bú được, vắt sữa mẹ cho trẻ ăn bằng cốc và thìa.
Nếu chỉ có bà mẹ được xác định mắc COVID-19, cần tư vấn cho bà mẹ và gia đình cân nhắc giữa lợi ích của việc cho trẻ bú mẹ và nguy cơ trẻ sơ sinh có thể mắc COVID-19.
Hướng dẫn mới: Nhận biết trẻ sơ sinh mắc COVID-19 trở nặng
Trẻ sơ sinh mắc COVID-19 nhưng không có triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ, không có một trong các dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ sơ sinh cũng được chăm sóc tại nhà.
Theo Bộ Y tế, dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ sơ sinh như bú ít hoặc bỏ bú; ngủ li bì khó đánh thức; suy hô hấp với biểu hiện thở > 60 lần/phút ở 2 lần đếm khác nhau, thở rên, khò khè, phập phồng cánh mũi, rút lõm lồng ngực, có cơn ngưng thở trên 20 giây, SpO2<96%.
Ngoài ra, trẻ có thể gặp nguy hiểm nếu sốt cao >38°C, co giật hoặc co cứng; cử động bất thường, mắt sưng đỏ hoặc có mủ; rốn sưng đỏ hoặc chảy mủ; trẻ có dấu hiệu mất nước; nôn liên tục, bụng chướng, tiêu chảy, phân có máu; vàng da xuất hiện trước 3 ngày tuổi, đặc biệt là trong 24 giờ sau sinh, vàng da kéo dài trên 14 ngày...
Những nội dung này nằm trong Hướng dẫn Chăm sóc, quản lý tại nhà đối với phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú và trẻ sơ sinh mắc COVID-19do Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn vừa ký ban hành ngày 28/3.
Bột sắn dây có thải độc tố COVID-19?
Trước thắc mắc của nhiều người về việc sử dụng bột sắn dây để thải độc tố COVID-19, Bác sĩ Nguyễn Văn Đàn - Phó Khoa y học cổ truyền, Đại học Y Dược TPHCM cho biết, trong y học cổ truyền, vị thuốc sắn dây còn có tên gọi là cát căn. Có hai cách mà chúng ta thường sử dụng, một là dạng tươi hay còn gọi là bột sắn dây mà chúng ta hay hòa nước uống, hai là hòa bột trong nước sau đó nấu lên thành dạng sệt.
Mỗi cách dùng đều có tác dụng khác nhau. Nếu hòa bột sắn dây với nước thường rồi uống sẽ có tác dụng thanh nhiệt, sinh thân, giúp giảm sốt, nóng, cảm nắng, giải khát... Còn nếu nấu lên thành dạng sệt lại có tác dụng kiện tì.
Đến nay, y học cổ truyền không có quan niệm sau bệnh lý COVID-19 cơ thể tích lũy nhiều chất độc, uống sắn dây để thải độc.
Theo lý luận của Đông y, khi bị COVID-19 sau giai đoạn cấp, cơ thể sẽ tổn thương khí huyết khác nhau tùy vào thể chất của người bệnh. Nếu người bệnh có thể chất đầy đủ, sung túc thì mức độ tổn thương ít hơn, không biểu hiện lâm sàng. Sau quá trình tập luyện đầy đủ, ăn uống đủ dinh dưỡng cơ thể sẽ tự phục hồi. Nếu thể chất người bệnh vốn đã yếu thì sau giai đoạn cấp như vậy khí huyết sẽ tổn thương nhiều.
Vì vậy, người bệnh có triệu chứng đầy bụng, tiêu hóa kém, có thể sử dụng bột sắn dây với dạng nấu cho đặc sệt. Người có triệu chứng phiền khát, cần thanh nhiệt thì có thể sử dụng nước sắn dây tươi. Tuy nhiên, nên được bác sĩ khám, tư vấn cụ thể trên từng người bệnh thì sử dụng mới có hiệu quả.
Hơn 80% trẻ dưới 5 tuổi nhập viện vì biến chủng Omicron
Gần đây, Hồng Kông chứng kiến sự gia tăng đáng báo động của các ca nhiễm COVID-19. Chỉ trong vòng 2 tháng rưỡi, từ đầu tháng 1 đến 15/3, các ca nhiễm COVID-19 đã tăng lên mức cao kỷ lục đến 0,9 triệu ca, so với chỉ 14.000 ca suốt thời gian trước khi xuất hiện biến thể Omicron.
Để đánh giá tình trạng bệnh ở trẻ em nhập viện do COVID-19, các nhà nghiên cứu Hồng Kông đã nghiên cứu trẻ từ 11 tuổi trở xuống, chưa tiêm chủng - nhập viện từ ngày 5 đến ngày 28/2 - trong giai đoạn Omicron BA.2 chiếm ưu thế.
Kết quả đã cho thấy, chỉ trong 23 ngày, có khoảng 1.147 trẻ em phải nhập viện do nhiễm Omicron. Điều bất ngờ là có đến hơn 80% trong số trẻ phải nhập viện là dưới 5 tuổi, theo News Medical.
Trong làn sóng Omicron chiếm ưu thế, đã có 4 trẻ tử vong do COVID-19. Tỷ lệ nhập viện chăm sóc đặc biệt nhi khoa (PICU) cao hơn trong làn sóng Omicron so với trước đây. Trong giai đoạn Omicron chiếm ưu thế, 171 trẻ nhập viện có biến chứng thần kinh. Phổ biến nhất là co giật do sốt với tỷ lệ là 11,6%.
Bên cạnh đó, đã có 61 trẻ nhiễm biến thể Omicron phát triển bệnh viêm thanh khí phế quản, chiếm 5,32%. Tỷ lệ viêm phổi ở trẻ em do Omicron tương tự như các biến thể trước.
Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng, mặc dù nhiễm Omicron được báo cáo là ít nghiêm trọng hơn đối với người từng nhiễm COVID-19 hoặc đã tiêm chủng, nhưng điều này có thể không đúng với trẻ em chưa tiêm chủng, theo tạp chí y khoa của Anh News Medical.
SARS-CoV-2 tiến hóa để vượt qua hệ miễn dịch người
Các chuyên gia từ trường y Anschutz thuộc Đại học Colorado thông báo kết quả nghiên cứu mới cho thấy, virus SARS-CoV-2 tiến hóa theo hướng ngày càng nâng cao khả năng né tránh hệ miễn dịch bẩm sinh của con người. Đây được coi là một phát hiện quan trọng, vừa thúc đẩy tiếp tục nghiên cứu sâu về loại virus còn nhiều bí ẩn này, vừa mở ra một hướng mới để tìm được phương thức điều trị bệnh hiệu quả hơn.
Ngay từ khi virus SARS-CoV-2 được thông báo xuất hiện lần đầu ở Vũ Hán, Trung Quốc, các nhà nghiên cứu Mario Santiago và Eric Poeschla tại Đại học Colorado đã tập trung theo dõi cách các virus gốc và các biến thể phản ứng với các interferon. Đây là loại protein được tế bào người sản sinh nhằm ngăn chặn virus phát triển trong cơ thể, một phần quan trọng trong phản ứng miễn dịch bẩm sinh của con người và có vai trò như lớp phòng thủ tuyến đầu khi cơ thể nhiễm virus.
Trong nghiên cứu được báo cáo tại Hội thảo về Các bệnh truyền nhiễm hồi tháng 2, các nhà nghiên cứu đã so sánh cách phản ứng của 17 interferon khác nhau trong cơ thể người với virus chủng gốc và 5 biến thể của virus gồm Alpha, Beta, Delta, Gamma và Omicron. Các dữ liệu chỉ ra rằng, cả 5 biến thể đều có khả năng kháng cự tốt hơn với interferon so với virus chủng gốc.
86% ca mắc COVID-19 toàn cầu do chủng phụ BA.2
Biến thể phụ BA.2 của Omicron hiện đang chiếm ưu thế trên toàn thế giới, làm tăng số ca COVID-19 ở nhiều quốc gia ở châu Âu và châu Á. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, BA.2 chiếm tới 86% số ca mắc COVID-19 hiện nay. Biến thể phụ của phiên bản Omicron có khả năng lây truyền cao được gọi là BA.2 này thậm chí còn dễ lây truyền hơn so với các "anh chị em" Omicron rất dễ lây lan của nó, gồm BA.1 và BA.1.1. Tuy nhiên, các bằng chứng cho đến nay cho thấy, BA.2 không có nhiều khả năng gây ra bệnh nặng.
Trên toàn cầu, sự lây lan nhanh chóng của BA.2 được cho là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng số ca mắc COVID-19 trong thời gian gần đây ở Trung Quốc cũng như tình trạng lây nhiễm kỷ lục ở các nước châu Âu như Đức và Anh. Các nhà khoa học cho biết, đây là một lời nhắc nhở rằng virus SARS-CoV-2 vẫn tiếp tục gây hại, đặc biệt là đối với các nhóm dân số chưa được tiêm chủng và dễ bị tổn thương.
Bài viết có hữu ích với bạn?
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ
Để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
Đăng ký nhận bản tin sức khoẻ để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình
