Ung thư

Chăm sóc giảm nhẹ - “vũ khí” giúp bệnh nhân chiến thắng cơn đau trong ung thư

TS.BS Thân Hà Ngọc Thể
TS.BS Thân Hà Ngọc Thể

BS chuyên khoa Chăm sóc giảm nhẹ, BV ĐHYD TP.HCM Xem thông tin

Chăm sóc giảm nhẹ là việc điều trị, chăm sóc và hỗ trợ nhằm giúp bệnh nhân “đỡ khổ” hơn khi mắc bệnh. Song, vẫn còn rất nhiều bệnh nhân chưa hiểu đúng về việc này, bên cạnh đó, người nhà và nhân viên y tế cũng cần được chăm sóc giảm nhẹ.

Đó là những vấn đề nổi cộm trong điều trị ung thư được TS.BS Thân Hà Ngọc Thể, Bộ môn Chăm sóc giảm nhẹ, ĐHYD TPHCM, Khoa lão - Chăm sóc giảm nhẹ, BV ĐHYD TPHCM, Hội Y học Chăm sóc giảm nhẹ Việt Nam chia sẻ trong bài báo cáo “Vai trò của chăm sóc giảm nhẹ trong chăm sóc và điều trị ung thư” tại Hội thảo Khoa học và Đào tạo Y khoa liên tục lần 1 - năm 2022 của Liên chi hội Đông - Tây kết hợp TPHCM.

Chăm sóc giảm nhẹ - món quà cho tinh thần và thể chất đầy yêu thương!

Mở đầu báo cáo “Vai trò của chăm sóc giảm nhẹ trong chăm sóc và điều trị ung thư”, TS.BS Thân Hà Ngọc Thể cho biết, chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) là sự chăm sóc không chỉ dành cho người bệnh mà còn cho cả gia đình người bệnh. Trong đó, người bệnh thường là những đối tượng đang đối mặt với những bệnh lý đe dọa đến tính mạng (bệnh nan y hoặc bệnh nặng giai đoạn cuối).

Mục đích của CSGN là làm giảm sự đau đớn về thể chất, tâm lý xã hội và tinh thần nhờ nhận biết sớm, đánh giá toàn diện và điều trị tích cực.

Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất của CSGN là làm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh. Thông qua đó, CSGN đem lại nhiều lợi ích cho hệ thống y tế nhờ làm giảm nhập viện không cần thiết.

CSGN có thể cung cấp tại nhà, trung tâm y tế, bệnh viện hay trung tâm chăm sóc cuối đời (nhà cận tử)… được thực hiện bởi nhân viên y tế chuyên nghiệp hoặc tình nguyện viên, thậm chí người thân của bệnh nhân.

Chuyên gia nhấn mạnh rằng: “CSGN xem sự sống và cái chết là tiến trình bình thường của đời người bởi không ai có thể qua được quy luật “sinh, lão, bệnh, tử”. CSGN không thúc đẩy, cũng không trì hoãn cái chết.

Nhiều người thường hiểu nhầm rằng CSGN giúp người bệnh ra đi êm ái nhưng thực tế không phải vậy. CSGN là cung cấp hệ thống nâng đỡ giúp gia đình bệnh nhân đương đầu với bệnh tật và những tổn thất của gia đình khi mất người thân. Đó chính là tính nhân văn của CSGN”.

Nhiệm vụ cơ bản của y học không chỉ là điều trị khỏi bệnh mà còn là làm dịu đi nỗi đau đớn của con người.

Để nhấn mạnh vai trò của CSGN, TS Ngọc Thể dẫn chứng một câu nói nổi tiếng của Hippocrates - cha đẻ của Y học và thầy thuốc vĩ đại nhất lịch sử thời Hy Lạp cổ đại: “Chữa khỏi bệnh là chuyện đôi khi làm được nhưng điều trị là phải thực hiện thường xuyên và việc làm cho bệnh nhân dễ chịu là điều luôn luôn phải nhớ".

CSGN được xem như một cách thức điều chỉnh khi y học quá tập trung vào từng cơ quan, đi sâu vào từng phân tử cụ thể hay quá chú trọng các phương tiện điều trị xâm lấn hiện đại mà quên mất cần phải đem lại sự dễ chịu cho bệnh nhân.

Hiện nay, thế giới xem CSGN là quyền cơ bản của con người. Trong Đại hội Đông y Thế giới 05/2014, người ta đã đưa ra một nghị quyết về CSGN. Trong đó, Nghị quyết nêu rõ: “CSGN là một nhiệm vụ đạo đức của hệ thống y tế ở tất cả các nước trên thế giới. Đảm bảo người bệnh có nhu cầu có thể tiếp cận CSGN là trách nhiệm đạo đức của những người làm trong ngành y tế".

Năm 2018, trong Hội nghị toàn cầu về Chăm sóc Sức khoẻ Ban đầu với chủ đề “Từ Alma-Ata đến bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân và các mục tiêu phát triển bền vững”, tuyên ngôn Astana cũng nhấn mạnh rằng: “Để đạt được Bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân (UHC) thì việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu phải bao gồm các dịch vụ chăm sóc nâng cao sức khoẻ, phòng ngừa, điều trị, phục hồi chức năng và CSGN phải dễ dàng tiếp cận cho mọi người. Nhiệm vụ của bác sĩ là phải đảm bảo cho người bệnh ở mọi giai đoạn cuộc đời dù là cuối đời vẫn phải có những điều kiện thích hợp, trong đó có điều trị CSGN”.

Trong bài báo cáo, chuyên gia cũng trích dẫn một thống kê cho thấy có đến 40 triệu bệnh nhân trên thế giới cần phải được CSGN, trong đó có 39% bệnh nhân mắc bệnh tim mạch, kế đến là bệnh lý ung thư chiếm 34%. Những bệnh nhân bị bệnh phổi mạn tính, nhiễm HIV/AIDS hoặc bệnh mạn tính không lây nhiễm đều cần đến CSGN.

Ngoài ung thư, trong một số trường hợp bệnh nhân cũng cần được CSGN như: bệnh nhân HIV/AIDS, người đang mắc bệnh đe dọa tới tính mạng (bệnh nhân nằm ICU), bệnh nhân mạn tính giai đoạn cuối (suy tim, COPD, suy thận mạn, xơ gan,…), đau mãn tính, các triệu chứng gây đau đớn hoặc các vấn đề về tâm lý bất kể giai đoạn nào của bệnh, người có khả năng qua đời trong vòng 6 tháng.

Không chỉ bệnh nhân mà gia đình hay người chăm sóc bệnh nhân cũng rất cần được CSGN. Một đối tượng cũng cần được CSGN nhưng thường bị bỏ quên đó là nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc bệnh nhân.

Khảo sát cho thấy 40 triệu người/năm đang sống chung với bệnh giai đoạn cuối cần được CSGN. Tuy nhiên, chỉ có 14% trong số bệnh nhân này nhận được CSGN. Như vậy, có đến 86% người bệnh phải chịu đau đớn và đau khổ không cần thiết chỉ vì không biết hoặc không tiếp cận được CSGN.

Tại Việt Nam, ước tính trung bình có khoảng 377/100.000 người lớn và 63/100.000 trẻ em cần CSGN. Với dân số trên 97 triệu người (năm 2020), mỗi năm có ít nhất khoảng 365.690 người lớn và hơn 15.000 trẻ em cần được CSGN.

TS.BS Thân Hà Ngọc Thể, Bộ môn Chăm sóc giảm nhẹ - ĐHYD TPHCM, Khoa lão- Chăm sóc giảm nhẹ - BV ĐHYD TPHCM, Hội Y học Chăm sóc giảm nhẹ Việt Nam với báo cáo “Vai trò của Chăm sóc giảm nhẹ trong chăm sóc và điều trị ung thư”.

Điều trị ung thư không thể tách rời chăm sóc giảm nhẹ

Theo TS.BS Thân Hà Ngọc Thể, CSGN nên được bắt đầu từ lúc bệnh nhân mới được chẩn đoán ung thư.

Thông thường, trong giai đoạn mới được chẩn đoán ung thư, vai trò của điều trị đặc hiệu sẽ chiếm chủ yếu. Tuy nhiên, khi bệnh tiến triển nặng dẫn đến tử vong thì vai trò của CSGN ngày càng tăng.

Một điều cần lưu ý là khi bệnh nhân đã tử vong thì CSGN vẫn được tiếp tục dành cho gia đình, người thân để hỗ trợ những tổn thất, mất mát sau đó.

CSGN phải được thực hiện xuyên suốt quá trình bị bệnh. Nếu áp dụng CSGN song hành cùng những biện pháp điều trị bệnh đặc hiệu sẽ giúp giảm bớt những tác dụng phụ, tăng khả năng tuân thủ điều trị và làm giảm tổn thương và tử vong.

Đặc biệt, khi liệu pháp điều trị đặc hiệu không còn hiệu quả, khả thi hoặc không còn phù hợp thì CSGN sẽ giữ một vai trò vô cùng quan trọng.

Để CSGN tốt cho bệnh nhân, đầu tiên bác sĩ sẽ đánh giá một cách cẩn thận và đưa ra những chẩn đoán phân biệt về những triệu chứng và có những biện pháp điều trị tích cực để kiểm soát triệu chứng cho người bệnh.

“Bên cạnh việc kiểm soát các triệu chứng về thể chất, CSGN còn giúp hỗ trợ về tâm lý và xã hội cho bệnh nhân và người nhà. Cụ thể, CSGN giúp bệnh nhân sống tích cực hơn, tiếp cận và luôn tuân thủ các điều trị đặc hiệu, đồng thời giúp bệnh nhân chuẩn bị sẵn sàng với cái chết không thể tránh khỏi và giúp gia đình người bệnh đương đầu với tình trạng bệnh tật, cũng như cái chết của người bệnh trong tương lai” - TS.BS Thân Hà Ngọc Thể cho biết

Bên cạnh đó, CSGN sẽ giúp người bệnh xác định được mục tiêu chăm sóc, từ đó thảo luận kế hoạch chăm sóc phù hợp giúp ngăn ngừa các can thiệp y học không mong muốn hoặc không thích hợp. Đặc biệt khi các điều trị kéo dài cuộc sống không phù hợp với mục tiêu chăm sóc của bệnh nhân và gia đình.

Ngoài ra, CSGN cũng giúp nhân viên y tế biết cách tự chăm sóc bản thân để tránh sự mệt mỏi, căng thẳng hay giảm đam mê nghề nghiệp.

Mục tiêu chính của CSGN là phát huy mọi tiềm năng của bệnh nhân và gia đình nhằm làm giảm triệu chứng, nâng đỡ hỗ trợ tâm lý và tinh thần, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhân viên với người bệnh và gia đình thông qua việc hợp tác và làm việc nhóm.

“Với sự phát triển của y học thực chứng, tôi thấy rằng sự phát triển của y học giảm nhẹ là tăng chất lượng cuộc sống, có thể ảnh hưởng tích cực đến quá trình bệnh, giảm số lần nhập viện không cần thiết, nhất là trong giai đoạn cuối của bệnh, từ đó giúp giảm chi phí đáng kể. Bên cạnh đó, CSGN còn giúp giảm các can thiệp kéo dài sự sống không phù hợp, giảm thiểu các rối loạn tâm thần, đau khổ do mất mát cho người thân trực tiếp chăm sóc bệnh nhân trong giai đoạn cuối.” - TS.BS Thân Hà Ngọc Thể chia sẻ.

Song, dù mang lại nhiều lợi ích nhưng việc tiếp cận CSGN lại gặp nhiều khó khăn. Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra rào cản trong việc tiếp cận CSGN, bao gồm: nhận thức trong cộng đồng về vai trò trong CSGN; rào cản về văn hoá và xã hội (niềm tin bệnh ung thư là một định mệnh và chấp nhận chịu đau đớn, tử vong bởi đó là điều đương nhiên); nhân viên y tế chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng CSGN cho người bệnh; rào cản về chính sách (ví dụ chính sách sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid nếu quá khó khăn sẽ khiến các bác sĩ chùn bước).

Để hạn chế những rào cản này, TS.BS Thân Hà Ngọc Thể nói: “Từ năm 2014, người ta đã muốn tích hợp CSGN vào hệ thống y tế trong toàn quốc. Vì vậy, điều trị đầu tiên là cần xem lại những luật, quy định về việc kê đơn, bảo quản, sử dụng opioid để kiểm soát đau. Tuy nhiên, so với trước đây, chính sách điều trị opioid của Việt Nam đã thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn rất nhiều nên các bác sĩ cũng đừng ngại chuyện kê đơn vì thủ tục không còn nhiều nữa”.

Bên cạnh đó, chuyên gia cũng đề xuất cần đưa CSGN vào việc đào tạo nhân viên y tế. Hiện nay, trường Đại học Y dược TPHCM là trường đại học sức khoẻ đầu tiên trong Việt Nam có khoa Chăm sóc giảm nhẹ. Đây là một bộ môn rất hiếm hoi trong các nước đang phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Đại học Y dược TPHCM cũng đã mở rộng đào tạo CSGN cho điều dưỡng không chỉ ở bậc đại học mà ở cả bậc sau đại học, đồng thời tăng cường các chương trình CSGN đào tạo ngắn hạn trong các chương trình của bệnh viện ĐH Y dược TPHCM. Hiện tại, Việt Nam cũng đã có Hội y học Chăm sóc giảm nhẹ Việt Nam để giúp hỗ trợ việc đào tạo.

“Một điều đáng mừng là năm 2022, Bộ Y tế đã thông qua hướng dẫn điều trị CSGN cập nhật 2022. Nếu như trong năm 2006, chương trình này chỉ dành cho bệnh nhân ung thư và bệnh nhân HIV/AIDS thì hướng dẫn về CSGN năm 2022 mở rộng cho tất cả các đối tượng bệnh nặng mạn tính, nan y” – chuyên gia cho biết.

“Thành công của bác sĩ không phải giữ sinh mạng mà là để bệnh nhân sống nhẹ nhàng, trọn vẹn đến phút cuối cùng…”

Chuyên gia cho biết, đau trong ung thư chiếm tỷ lệ rất cao, khoảng 55% bệnh nhân đang điều trị ung thư có triệu chứng đau và 66% bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối có triệu chứng đau.

Hầu hết bệnh nhân ung thư đều có các cơn đau cấp tái phát do nhiều cơ chế như: phẫu thuật, thủ thuật xâm lấn, biến chứng gãy xương bệnh lý…

Một khảo sát cho thấy, đau mạn tính cần điều trị opioid chiếm 30 - 50% bệnh nhân ung thư đang điều trị thuốc chống ung thư và chiếm 75 - 90% bệnh nhân ung thư tiến triển. Đặc biệt, tổn thương mô do ung thư là nguyên nhân tiên phát của 3/4 bệnh nhân đau mãn tính do ung thư.

Tuy nhiên, đau trong ung thư không được nhận thức và điều trị đầy đủ. Cụ thể, 50% bệnh nhân ung thư phải chịu đau từ trung bình đến nặng nhưng lại không được điều trị đầy đủ. Chỉ khoảng 20% bệnh nhân ung thư chịu đựng đau trung bình đến nặng không được kê đơn thuốc giảm đau.

Đặc biệt, việc điều trị đau thường không tối ưu bởi có tới 2/3 bệnh nhân ung thư thấy cơn đau của mình không được điều trị tối ưu, 1/3 đau quá sức chịu đựng. Hơn nữa, các cơn đau đột xuất của bệnh nhân cũng không được điều trị đầy đủ. 60% bệnh nhân ung thư từng có cơn đau đột xuất và hầu hết bệnh nhân ung thư thấy rằng mình phải chủ động đề cập về đau với bác sĩ. Tuy nhiên, có khoảng 25% bệnh nhân cho biết bác sĩ chưa bao giờ hoặc hiếm khi hỏi họ về đau.

Theo một nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư tại Hà Nội năm 2004, có 33% bệnh nhân ung thư đau từ mức độ trung bình đến nặng tại thời điểm phỏng vấn, 31% bệnh nhân bị đau trung bình đến nặng gần như ở mọi thời điểm. Đặc biệt, có tới 38% bệnh nhân có cơn đau gây giới hạn vừa đến nghiêm trọng các hoạt động thường ngày. Trong số đó, chỉ có 1% bệnh nhân đánh giá giảm đau hoàn toàn nhờ thuốc, 40% giảm đau một phần nhờ thuốc và đến 59% bệnh nhân không giảm đau.

Một nghiên cứu trên bệnh nhân cao tuổi bị ung thư điều trị nội trú tại bệnh viện ĐH Y dược TPHCM năm 2019 cho thấy, 62,9% bệnh nhân có biểu hiện đau; 43,6% bệnh nhân nhập viện vì đau; 16,3% chưa được điều trị đau; 66,41% được bệnh nhân tự đánh giá là được điều trị đau hiệu quả. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng tỷ lệ đau và nhập viện vì đau giảm rõ nếu bệnh nhân được tiếp cận CSGN.

TS.BS Thân Hà Ngọc Thể nhận định: “Bệnh nhân ung thư phải sống và chết trong đau đớn là điều không thể chấp nhận được. Một thực tế đáng buồn hiện nay là có 18 triệu người dân chết trong đau đớn mỗi năng trong tổng số 75 – 83% dân số thế giới không tiếp cận được thuốc giảm đau”.

Chuyên gia cho biết, nguyên nhân khiến người bệnh ung thư không được điều trị giảm đau đúng mức xuất phát từ 3 khía cạnh.

Thứ nhất, bác sĩ thường không đủ kiến thức và kỹ năng hoặc xem thường tầm quan trọng của việc kiểm soát đau.

Thứ hai, bệnh nhân thường không báo đầy đủ triệu chứng đau vì sợ bác sĩ giảm điều trị đặc hiệu ung thư, sợ nghiện hay tác dụng phụ của opioid, nghĩ thuốc narcotics chỉ dành cho người bị hấp hối hoặc không đủ điều kiện tài chính mua thuốc.

Thứ ba, hệ thống y tế thiếu bảo hiểm y tế, thủ tục kê đơn opioid phức tạp, thiếu bác sĩ CSGN, chuyên gia điều trị đau, cũng như thiếu chương trình đào tạo điều trị đau.

“Nếu đau cấp tính không được can thiệp, các thụ thể đau trở nên nhạy cảm, có thể làm thay đổi kéo dài trong các neuron, làm tăng tốc độ chuyển hoá và đông máu, tổn thương chức năng miễn dịch, cũng như gây ra cảm xúc tiêu cực.

Nếu đau mạn thì càng thấy rõ hậu quả như gây mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, lú lẫn, tăng đau khổ không cần thiết, rối loạn giấc ngủ, tăng té ngã, giảm khả năng hoạt động chức năng, giảm khả năng chống chọi bệnh, kéo dài thời gian nằm viện hay tái nhập viện, làm trì hoãn hay gián đoạn điều trị chống ung thư, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị ung thư.” - TS Ngọc Thể trăn trở.

Như vậy, điều quan trọng là khi bệnh nhân thấy đau thì bác sĩ phải xác định nguyên nhân gây đau của bệnh nhân là gì để có hướng điều trị theo đúng cơ chế gây ra đau.

Khi đau trong ung thư được kiểm soát, bệnh nhân sẽ cải thiện giao tiếp, đối phó tốt hơn với bệnh vào giai đoạn cuối đời, cải thiện chất lượng cuộc sống, sự hài lòng, cũng như làm giảm các giá thành chăm sóc.

TS Ngọc Thể nhấn mạnh, đau ở bệnh nhân ung thư là đau tổng thể, bao gồm thể chất, tâm lý, xã hội và tâm linh. Vì vậy, khi đánh giá đau người bệnh, bác sĩ không chỉ đơn thuần đánh giá mức độ đau mà còn phải đánh giá đau một cách toàn diện và điều trị có sự phối hợp đa mô thức.

Trong góc độ của bệnh nhân ung đang hấp hối, kiểm soát bệnh tật không còn quan trọng nữa

“Trong quan điểm của người khoẻ mạnh, họ cho rằng sự nghiệp chiếm một phần quan trọng trong cuộc sống và sức khoẻ chỉ chiếm một phần nhỏ. Tuy nhiên, đối với bệnh nhân đang hấp hối, vai trò giảm nhẹ triệu chứng rất quan trọng, kế đến là gia đình và tinh thần. Với họ, việc kiểm soát bệnh tật đối lúc này không còn quan trọng nữa.

Tuy nhiên, trong cách nhìn của bác sĩ về bệnh nhân đang hấp hối, các bác sĩ luôn luôn quan tâm đến kiểm soát bệnh tật. Họ rằng mình cần phải truyền dịch, hoá trị, chụp X-quang, CT Scan, kiểm soát nhịp thở, hồi sinh tim phổi… thì mới là cách điều trị tốt nhất cho bệnh nhân hấp hối. Hầu hết các bác sĩ luôn nghĩ rằng sự thành công của mình là phải giữ được mạng sống của người bệnh.

Trên thực tế, khi sự tử vong là không thể tránh khỏi thì thành công của bác sĩ không phải là giữ sinh mạng cho bệnh nhân mà chính là phải cho người bệnh có một cái chết nhẹ nhàng và được sống cho đến giờ phút cuối, xứng đáng với ý nghĩa con người.

Do đó, bác sĩ cần phải đặt mình dưới góc độ của người bệnh chứ không phải một bác sĩ, như vậy mới có thể tiếp cận bệnh nhân một cách có hiệu quả.” – đó cũng là những giãi bày của TS Ngọc Thể trước khi kết thúc báo cáo của mình.


Anh Thi - AloBacsi.vn
Rất hữu ích
Hữu ích
Bình thường

Tin liên quan

Mới cập nhật