Ông có một tấm lòng đủ rộng và một trái tim đủ lớn để yêu thương con người.
Ông có một cái tên thân mật mà đồng đội của ông quen gọi (anh, chú, ông, tuỳ người đối diện): Tư Đá. Còn GS André Roussel trong bài viết trên tạp chí của hội Y học Pháp - Việt số ra tháng 3/1969 gọi ông là “Một người hiền vĩ đại”. Sắc lạnh, vững chãi với thời gian dường như có cả trong hai cách gọi yêu thương và trân trọng này.
Đó là BS Phạm Ngọc Thạch, một trí thức Tây học, từng là giám đốc một bệnh viện lao ở vùng phía Đông nước Pháp và bác sĩ chuyên khoa của viện điều dưỡng Haute Ville. Ông là lãnh tụ Thanh niên tiền phong của Sài Gòn trong Cách mạng tháng tám 1945. Vị bộ trưởng liệt sĩ (dường như có một không hai trong Chính phủ từ thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà đến nay), là bác sĩ anh hùng lao động đầu tiên của Việt Nam (1958). Người mà trong mắt BS Hồ Đắc Di: “Tôi khâm phục tinh thần tận tuỵ phục vụ người bệnh của anh Thạch. Ngày đêm anh thường nằm bên giường bệnh của tôi, nâng giấc ngủ cho tôi như một người mẹ… Tôi mang ơn anh đã cứu sống tôi”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh viện Việt - Đức, hỏi chuyện Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch (bìa trái) và GS Tôn Thất Tùng (đeo kính màu). Ảnh: tư liệu
Trong tiểu thuyết nổi tiếng đã xuất bản bằng tiếng Việt do nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo dịch, và đã dựng thành phim Đèn không hắt bóng, bác sĩ văn hào Watanabe của Nhật Bản đã viết: “Người thầy thuốc chân chính phải vừa là một triết gia, vừa là kẻ tuyên truyền đạo lý làm người”. Ông Tư Đá đã là như vậy. Ông trở về chiến trường Nam bộ ở thời điểm khó khăn nhất, chiến tranh ở mức dữ dội nhất, năm 1968, thời điểm mà cuộc sống, cái chết xảy ra trong gang tấc. Ông đã có mặt ở tất cả các điểm nóng về bệnh sốt rét của các chiến sĩ giải phóng với hy vọng tìm ra cách phòng ngừa và giúp họ vượt qua được căn bệnh làm chết người hàng loạt ở chiến khu lạt muối thiếu cơm khi đó. Thật trớ trêu, ông lại là nạn nhân của của sốt rét ác tính và viêm phúc mạc mật. Ông mất ở chiến khu Tây Ninh vào một tối đầu đông, ngày 7/11/1968.
Trong hồi ký Thời gian trong mắt tôi, BS Trần Hữu Nghiệp ghi lại thật cảm động về đêm tiễn biệt BS Phạm Ngọc Thạch ở chiến khu: “Tối 8/11/1968, một nhóm anh em tín cẩn đông không quá mười người khiêng linh cữu BS Phạm Ngọc Thạch, đèn pin soi đường đem mai táng bên tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông. Quan tài là mấy tấm gỗ dầu gỡ ra từ các bàn học của lớp y sĩ khoá 2 đem đóng lại vội vàng, sơn đen và phủ lên đó lá cờ đỏ búa liềm. Dưới cơn mưa lâm râm của đêm tháng 10 âm lịch, giờ vĩnh biệt lặng lẽ âm thầm. Sau đó, mộ phần được đánh dấu kỹ bằng ve chai, chôn rồi khoả bằng mặt đất có lớp cỏ nguỵ trang…”
Thủ tục kiểm kê tài sản để lại của BS Phạm Ngọc Thạch ở chiến khu có: một đồng hồ đeo tay cũ mèm, cây bút máy và một cuốn sổ ghi chú dày. Ở Hà Nội sau đó cũng có kiểm tra nhà cửa để niêm phong. Ông Nguyễn Đức Thắng, thứ trưởng bộ Y tế cho biết: “Ngoài cái đài thu thanh của bộ cho mượn để nghe tin tức, lục soát cả nhà không món nào đáng giá tới 100 đồng…”
Tự điển mở Wikipedia cho biết, khi về nước năm 1936, BS Phạm Ngọc Thạch mở phòng mạch tư ở số 202 Stratégique, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, thu nhập của ông cao hơn bất cứ ông đốc phủ sứ nào. Ruộng vườn ở miền Tây rộng lớn, nhà nghỉ ở Đà Lạt của ông thênh thang… thế nhưng ông đã bỏ lại sau lưng tất cả: danh vọng, giàu sang, vợ đẹp con ngoan để ra đi trên con đường trường chinh cứu nước. Ông đã tin và đã hạnh phúc với niềm tin đó. Bởi như nhà báo Pháp Madeleine Riffaud từng nói về ông: “Hình ảnh của ông vẫn còn mãi trong làn nước xanh trong, trong hàng vạn giếng khơi mà ông cho đào, trong tiếng khóc chào đời của các cháu bé sơ sinh, trong buồng phổi khoẻ mạnh của nhân dân Việt Nam”.
Tháng 8 đến, tháng 8 đi. Một mùa thu lại đến, bao xao động căng đầy từng gương mặt người đang vượt qua thách thức của bão giá, của bao trắc trở cuộc đời. Những thách thức của thời bình dường như không dễ dàng gì. Năm học mới bắt đầu với biết bao nan giải cho túi tiền của những gia đình nghèo. Bệnh dịch có thể sẽ hoành hành thêm khi môi trường ô nhiễm nặng…
Tuy nhiên, những lá cờ đỏ sao vàng vẫn phất phới trên mỗi phố phường trong ngày lễ, đột nhiên tôi bỗng nhớ tới ông, một trí thức dấn thân, một người cộng sản xả thân, một người lãnh đạo khi hy sinh ở chiến trường chỉ mong manh bộ quần áo vải. Nhưng ông có một tấm lòng đủ rộng và một trái tim đủ lớn để yêu thương con người.
Người hiền vĩ đại đó có cái tên giản dị: ông Tư Đá.
|
BS Phạm Ngọc Thạch sinh ngày 7/5/1909, học đại học Y Hà Nội từ năm 1928, tốt nghiệp bác sĩ ở Paris năm 1934.
Tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn từ thời kỳ Mặt trận bình dân (1936-1939), vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 3/1945, là một thủ lĩnh của tổ chức Thanh niên tiền phong, tham gia cướp chính quyền tháng 8/1945.
Từ ngày 27/8/1945 là Bộ trưởng Y tế đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, uỷ viên uỷ ban Nhân dân Nam bộ, rồi lần lượt thứ trưởng phủ Chủ tịch, trưởng phái đoàn Chính phủ tại Nam bộ (1948-1950), chủ tịch uỷ ban Kháng chiến hành chính đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, trưởng ban Y tế của Đảng, thứ trưởng Y tế (1954-1958), từ năm 1958 là bộ trưởng Y tế.
Hy sinh trên chiến trường miền Nam ngày 7/11/1968. Năm 1997, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên.
Không kể đến những bài nghiên cứu đăng trong các tạp chí chuyên môn nước ngoài từ những năm 1937-1938, chỉ tính trong vòng mười năm từ năm 1957 khi ông làm Viện trưởng viện Chống lao, ông đã công bố hơn 60 công trình nghiên cứu, bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước hoặc được trình bày tại các hội nghị quốc tế.
Sách khoa học đã xuất bản của ông: Cơ sở lý luận y học Việt Nam, Quán triệt phương châm phòng bệnh trong công tác bảo vệ sức khoẻ, Mười năm xây dựng y tế nông thôn.
|
Theo Minh Nguyễn - Sài Gòn Tiếp Thị