Y học Cổ truyền

Đinh lăng kích thích miễn dịch, bổ huyết, tăng sữa

Đinh lăng có tác dụng kích thích miễn dịch mạnh, hữu ích cho người suy dinh dưỡng, người cao tuổi, và người suy giảm miễn dịch trong phòng chống bệnh tật. Đinh lăng giúp lợi sữa nhưng không dùng cho phụ nữ mang thai.

I. Tổng quan về cây đinh lăng

Tên thường gọi: đinh lăng

Tên gọi khác: đinh lăng lá nhỏ, cây gỏi cá, nam dương lâm, nam dương sâm.

Tên khoa học: Tieghemopanax fruticosus Vig., hoặc Polyscias fruticosa (L.) Harms, hoặc Nothopanax fruticosum (L.) Miq.

Phân họ: Họ Nhân sâm (Araliaceae).

alobacsi cây đinh lăng

1. Nhận biết cây đinh lăng

Đinh lăng là loài cây nhỏ, xanh tốt quanh năm, có thể cao đến 2m. Thân nhẵn, không gai, ít phân nhánh, mang nhiều vết sẹo to, màu xám. Lá to, mọc so le, kép lông chim 2-3 lần, dài 20 - 40cm; lá chét có răng cưa nhọn, đôi khi chia thuỳ, gốc và đầu thuôn nhọn, có mùi thơm khi vò nát. Cuống lá dài, phát triển thành bẹ to ở phần cuối.

Cụm hoa mọc ở ngọn thành hình chuỳ ngắn mang nhiều tán; lá bắc rộng, sớm rụng; hoa nhỏ, màu lục nhạt hoặc trắng xám; đài 5 răng hàn liền, mép uốn lượn; tràng 5 cánh hình trái xoan, nhị 5, chỉ nhị ngắn; bầu hạ, 2 ô.

Quả dẹt, hình trứng rộng, màu trắng bạc. Mùa hoa quả tháng 4-7.

Bộ phận dùng của đinh lăng là toàn cây, bao gồm cả rễ, thân, lá.

Phân biệt:

Có những loài cũng được gọi là đinh lăng nhưng lại ít khi được dùng làm thuốc, gồm:

Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Baill.): Lá kép thường chỉ có 3 lá chét trên một cuống dài, lá chét hình tròn, đầu tù.

Đinh lăng lá to hay đinh lăng lá ráng (Polyscias ilicifolia (Merr .) Baill.): Lá kép có 11 - 13 lá chét; lá chét hình mác có răng cưa to và sâu.

Đinh lăng trổ hoặc đinh lăng viền bạc (Polyscias guilfoylei Baill.): Lá kép có 7 lá chét; lá chét thường có viền trắng.

alobacsi Những loài cũng được gọi là đinh lăng nhưng lại ít khi được dùng làm thuốcNhững loài cũng được gọi là đinh lăng nhưng lại ít khi được dùng làm thuốc

2. Thành phần dược chất của đinh lăng

Vỏ rễ và lá đinh lăng chứa saponin, alkaloid, các vitamin B1, B2, B6, vitamin C, 20 acid amin, glycosid, phytosterol, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lượng và đường.

Trong lá đinh lăng còn có saponin triterpen, một genin đã xác định được là acid oleanolic. Viện Dược liệu đã phân lập được trong lá đinh lăng 5 hợp chất polyacetylen, mà 2 trong số đó chỉ có trong đinh lăng chứ không có trong các loài khác thuộc họ Nhân sâm.

II. Công dụng của đinh lăng

1. Công dụng của đinh lăng theo đông y cổ truyền

Rễ đinh lăng có vị ngọt, tính bình. Lá vị nhạt, hơi đắng, tính bình.

Dược liệu này có tác dụng bổ 5 tạng, tiêu thực, tiêu sưng viêm, giải độc, bổ huyết, tăng sữa.

2. Công dụng của đinh lăng theo đông y hiện đại

Các tác dụng đã nghiên cứu:

  • Đinh lăng có tác dụng tăng sức lực, sức dẻo dai cho con người, mạnh nhất là rễ, kế đến là thân và lá.
  • Đinh lăng là một loại thuốc bổ dưỡng rất tốt, tác dụng này vẫn mạnh hơn ở rễ và giảm dần về phía ngọn.
  • Đinh lăng có tác dụng an thần, chữa mất ngủ, nhưng điều đặc biệt là không gây độc cho người bệnh như nhiều thảo dược trị mất ngủ khác.
  • Tác dụng lợi tiểu cũng là tác dụng đáng lưu ý của đinh lăng.
  • Các chất polyacetylen trong rễ đinh lăng có tác dụng kháng khuẩn mạnh và chống một số dạng ung thư. Trong đó, nổi bật là kháng vi khuẩn Entamoeba histolytica.
  • Đinh lăng giúp chống sốc phản vệ ở mức độ vừa.
  • Đinh lăng có tác dụng kích thích miễn dịch mạnh, đó là lợi ích thiết thực cho người suy dinh dưỡng, người cao tuổi, và người suy giảm miễn dịch trong phòng chống bệnh tật.
  • Đinh lăng giúp chống lại trạng thái trầm uất của thần kinh, được dùng cho bệnh nhân trầm cảm.
  • Khả năng tăng hiệu quả hoạt động hệ sinh dục cũng là một điều đáng nói, đinh lăng giúp cải thiện chức năng sinh dục ở người lão suy, cả nam và nữ, tác dụng kéo dài và bền vững.

Các tác dụng dùng theo kinh nghiệm dân gian:

  • Rễ đinh lăng được dùng làm thuốc bổ tăng lực, chữa cơ thể suy nhược, gầy yếu, mệt mỏi, tiêu hoá kém, phụ nữ sau khi sinh đẻ ít sữa. Có nơi còn dùng chữa ho, ho ra máu, đau tử cung, kiết lỵ và làm thuốc lợi tiểu, chống độc.
  • Lá chữa cảm sốt, mụn nhọt sưng tấy, sưng vú, dị ứng mẩn ngứa, vết thương (giã đắp).
  • Thân và cành chữa thấp khớp, đau lưng.

Ở Ấn Độ, đinh lăng được dùng làm thuốc trị sốt. Rễ và lá sắc uống có tác dụng lợi tiểu, chữa sỏi thận, sỏi bàng quang, chứng khó tiểu tiện. Bột lá được giã với muối và đắp trị vết thương.

III. Cách dùng - liều dùng đinh lăng

Liều dùng: Ngày dùng 1 - 6g rễ hoặc 30 - 50g thân cành dạng thuốc sắc. Có thể dùng rễ khô tán bột hoặc rễ tươi ngâm rượu uống. Lấp kín rễ đinh lăng vào bình thủy tinh, cho rượu vào vừa ngập, đậy kín, sau 6 tháng có thể mang ra dùng dần, mỗi ngày uống 20ml.

1. Một số cách dùng đinh lăng theo kinh nghiệm dân gian hoặc bài thuốc cổ phương

  • Chữa mỏi mệt, biếng hoạt động: Rễ đinh lăng phơi khô, thái mỏng 5g. Thêm 100ml nước, đun sôi trong 15 phút, chia 2 - 3 lần uống trong ngày.
  • Chữa sốt lâu ngày, nhức đầu, háo khát, ho, đau tức ngực, nước tiểu vàng: Đinh lăng tươi (rễ, cành) 6g, lá hoặc vỏ chanh 10g, vỏ quýt 10g, sài hồ (rễ, lá, cành) 20g, lá tre tươi 20g, cam thảo dây hoặc cam thảo đất 30g, rau má tươi 30g, chua me đất 20g. Các vị cắt nhỏ, đổ ngập nước, sắc đặc lấy 250ml, chia uống 3 lần trong ngày.
  • Chữa sưng vú: Cành lá đinh lăng 30-40g, thêm 300ml nước sắc còn 200ml, uống nóng, ngày uống 1-2 lần.
  • Chữa đau tử cung: Cành lá đinh lăng rửa sạch, sao vàng, sắc uống thay trà.
  • Chữa mẩn ngứa do dị ứng: Lá đinh lăng 80g, sao vàng, sắc uống. Dùng trong 2-3 tháng.
  • Chữa thiếu máu: Rễ đinh lăng, hà thủ ô, thục địa, hoàng tinh, mỗi vị 100g, tam thất 20g, tán bột, sắc uống ngày 100g.
  • Chữa viêm gan mạn tính: Rễ đinh lăng 12g, nhân trần 20g, ý dĩ 16g; chi tử, hoài sơn, biển đậu, rễ cỏ tranh, xa tiền tử, ngũ gia bì, mỗi vị 12g; uất kim, nghệ, ngưu tất mỗi vị 8g. Sắc uống, ngày 1 thang.
  • Chữa liệt dương: Rễ đinh lăng, hoài sơn, ý dĩ, hoàng tinh, hà thủ ô, kỷ tử, long nhãn, cám nếp, mỗi vị 12g; trâu cổ, cao ban long, mỗi vị 8g; sa nhân 6g. Sắc uống, ngày 1 thang.
  • Chữa sốt rét: Rễ đinh lăng, sài hồ, mỗi vị 20g; rau má 16g; lá tre, cam thảo nam, mỗi vị 12g; bán hạ sao vàng 8g, gừng 6g. Sắc uống.

2. Dùng đinh lăng đối với phụ nữ mang thai và cho con bú

Không dùng cho phụ nữ mang thai vì dễ gây sảy thai.

Phụ nữ đang cho con bú mà dùng thảo dược này thì tốt, giúp lợi sữa.

2. Dùng đinh lăng đối với trẻ nhũ nhi

Hiện nay chưa ghi nhận tác dụng ngoại ý trên đối tượng trẻ nhũ nhi. Tuy nhiên, cần thận trọng khi dùng cho trẻ nhũ nhi vì chưa có minh chứng khoa học về tính an toàn của thảo dược này trên trẻ nhũ nhi, cần tham khảo ý kiến thầy thuốc có chuyên môn về lĩnh vực này trước khi dùng.

IV. Tác dụng phụ - thận trọng - tương tác và chống chỉ định với đinh lăng

Không dùng đinh lăng cho phụ nữ mang thai, vì nó gây tăng co bóp tử cung dễ làm sảy thai.

V. Phân bố, trồng trọt, thu hái và chế biến đinh lăng

Đinh lăng là loại cây ưa ẩm, có thể hơi chịu bóng, trồng được trên nhiều loại đất. Trồng bằng cành 2-3 năm sau cây sẽ ra hoa quả. Đinh lăng là loài tái sinh vô tính mạnh mẽ, với một đoạn thân hoặc cành cắm xuống đất đều trở thành cây mới.

alobacsi Đinh lăng sau giâm cànhĐinh lăng sau giâm cành

Nếu trồng lớn, chọn cành bánh tẻ có đường kính 1-1,5 cm, cắt thành đoạn dài 5 - 7 cm, giâm trong cát ẩm (70%). Sau 7-10 ngày, hom giống nảy mầm và sau 1,5-2 tháng có thể ra ngôi. Cành giâm lúc đầu chỉ ra rễ ở đầu dưới của cành. Thực tiễn thấy rằng, rễ này nhỏ và chất lượng kém hơn rễ phát sinh từ gốc chồi tái sinh. Tuy nhiên, chồi tái sinh của đinh lăng ra rễ rất chậm. Đó là lý do tại sao đinh lăng lâu được thu hoạch.

Đất trồng đinh lăng cần nhiều màu, tầng canh tác sâu, tơi xốp, cao ráo, thoát nước và tiện tưới. Sau khi làm đất, khơi rãnh thoát nước hoặc lên thành luống, bứng cây con ra trồng với khoảng cách 0,8 x 0,6m. Đinh lăng trồng được quanh năm, tốt nhất là giâm cành vào tháng 5-6 và trồng vào tháng 7-8.

Khi trồng nên cắt bớt lá để hạn chế thoát hơi nước, giúp cây nhanh hồi phục. Cây ưa bóng và ưa ẩm nên có thể trồng xen dưới tán cây trong vườn. Thường xuyên làm cỏ, nhất là lúc mới trồng.

Từ giữa mùa xuân đến mùa thu, thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần bón thúc cho cây. Dùng nước phân chuồng, nước giải pha loãng, phân vi sinh hoặc NPK, liều lượng tùy mức độ sinh trưởng của cây.

Đinh lăng không có sâu bệnh nghiêm trọng. Cây trồng sau 7-10 năm mới được thu hoạch. Cây càng già, năng suất và chất lượng rễ càng cao.

Rễ củ thu hái vào mùa thu, lúc này rễ mềm, nhiều hoạt chất, rửa sạch. Rễ nhỏ để nguyên, rễ to chỉ dùng vỏ rễ. Thái rễ mỏng, phơi khô ở chỗ mát, thoáng gió để đảm bảo mùi thơm và phẩm chất. Khi dùng, để nguyên hoặc tẩm rượu gừng 5%. Sao qua, rồi tẩm 5% mật ong, sao thơm.

VI. Bảo quản đinh lăng

Cần làm khô thảo dược bằng máy sấy hoặc ánh nắng mặt trời, sau đó cho vào hũ thủy tinh, đậy kín, tránh ánh sáng. Có thể cho vào một viên vôi sống để hút ẩm. Nếu bạn không phải là thầy thuốc thì không nên lưu trữ thuốc tại nhà quá lâu. Nếu bạn buộc phải lưu trữ thảo dược tại nhà lâu hơn 1 tháng, cần kiểm tra chúng hàng tuần, nếu phát hiện mối mọt, ẩm mốc, biến đổi màu sắc, mùi vị thì cần loại bỏ ngay.

Rễ củ đinh lăng có thể bảo quản để dùng lâu dài đến hàng năm bằng cách ngâm rượu đã trình bày bên trên.

BS Đoàn Quang Nguyên


Cổng thông tin Tư vấn sức khỏe AloBacsi.com
Rất hữu ích
Hữu ích
Bình thường

Tin liên quan

Mới cập nhật