Chat với bác sĩ

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung chia sẻ cách bảo vệ sức khỏe mẹ bầu trong mùa dịch COVID-19

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung
PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung

Nguyên giám đốc bệnh viện Phụ sản Hùng Vương, TPHCM Xem thông tin

Trong chương trình tư vấn ngày 10/4, PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung - Chủ tịch Hội Phụ sản TPHCM đã giải đáp nhiều thắc mắc thú vị như: Vì sao hệ miễn dịch của mẹ suy giảm khi mang thai? COVID-19 ảnh hưởng đến mẹ bầu như thế nào? Làm sao bảo vệ mẹ và con vượt qua mùa dịch an toàn?

Đây là chương trình "Truyền thông tư vấn bảo vệ sức khỏe phòng chống COVID-19" do Hội Y học TPHCM phối hợp với Kênh truyền thông AloBacsi thực hiện ngày 9/4. Kính mời bạn đọc đón xem.

1. Thưa PGS Vũ Thị Nhung, vì sao khi mang thai, sức đề kháng của phụ nữ giảm sút?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: Chúng ta đều biết phụ nữ mang thai có vẻ yếu hơn những người khác, y học gọi là suy giảm miễn dịch. Khi mang thai, cơ thể phụ nữ có sự thay đổi rất lớn về hệ nội tiết. Đặc biệt là nội tiết tố progesterone, chất này có khả năng làm giảm sự sản xuất ra Lympho TCD8 - một tế bào có liên quan đến hệ miễn dịch.

Việc suy giảm miễn dịch này là điều cần thiết để giúp cơ thể người mẹ không đào thải thai nhi. Vì hệ miễn dịch sẽ xem thai nhi như là một vật thể lạ ghép trên cơ thể mẹ, nếu miễn dịch tốt nó sẽ làm cho sẩy thai, tống suất thai ra ngoài.

Khi hệ thống miễn dịch giảm, giống như bị che mắt thì thai sẽ có cơ hội phát triển. Nhưng đồng thời, cơ thể người mẹ sẽ gặp khó khăn khi chống cự với các vi khuẩn, virus.

40 năm trong ngành y, PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung được giới báo chí trân trọng gọi là "nữ tướng" của ngành Sản Phụ khoa và cũng là "bà đỡ" mát tay, thân thiết của không biết bao nhiêu bà bầu

2. Nếu bị COVID-19, bệnh này ảnh hưởng đến sức khỏe phụ nữ mang thai như thế nào ạ? Nguy cơ tử vong ở thai phụ có cao hơn những bệnh nhân khác không?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: Khả năng mắc bệnh của người phụ nữ mang thai không khác gì so với dân số chung, mặc dù có sự suy giảm miễn dịch. Cho đến nay, virus gây bệnh COVID-19 còn mới, nhưng cũng có một nghiên cứu ngắn ở Trung Quốc cho thấy tỷ lệ tử vong của phụ nữ mang thai do COVID-19 lại không xảy ra.

Có trường hợp mẹ và con tử vong ở Tây Ban Nha thì phải xem xét lại nguyên nhân. Bởi có những tai biến sản sản khoa xảy ra trùng hợp với chuyện người mẹ có thể mắc bệnh và tử vong.

3. COVID-19 có ảnh hưởng đến thai nhi không? Nếu thai phụ bị nhiễm SARS-CoV-2 trong 3 tháng đầu thì có cần chấm dứt thai kỳ không? Nếu bị nhiễm bệnh trong những tháng cuối của thai kỳ thì có cần mổ lấy thai không ạ?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: Mức độ ảnh hưởng của COVID-19 trên phụ nữ mang thai và thai nhi là rất khả quan, không giống như đối với dịch SARS-CoV và MERS-CoV trước đó.

Một nghiên cứu ở Trung Quốc đã làm thống kê trên 38 trường hợp thai phụ mắc COVID-19. Các nhà khoa học đã tiến hành làm xét nghiệm trên nước ối, màng ối, dịch họng của em bé và sữa mẹ thì hoàn toàn không có virus SARS-CoV-2 ở đây. Bên cạnh đó, trên các trường hợp xem xét bánh nhau sau khi sinh xong cũng hoàn toàn không ghi nhận virus. Tương tự, nghiên cứu trên đường sinh dục của bà mẹ cũng ghi nhận kết quả như vậy. Điều này cho thấy rằng chắc chắn không có sự lây truyền từ mẹ sang con, trong khi thai nằm trong tử cung.

Do đó, có thể yên tâm. Nếu chẳng may mắc COVID-19 trong 3 tháng đầu thai kỳ cũng không có chỉ định chấm dứt thai kỳ.

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, không được thực hiện những can thiệp khi không cần thiết. Đối với phụ nữ mang thai ở 3 tháng cuối thai kỳ, trừ khi có những chỉ định về sản khoa, ví dụ như bà mẹ bị nhau tiền đạo, nhau cài răng lược, nhau bong non hoặc trường hợp chuyển dạ kéo dài thì mới bắt buộc phải can thiệp bằng cách mổ lấy thai.

Trong trường hợp mẹ bầu mắc COVID-19, nếu không có triệu chứng hoặc triệu chứng rất nhẹ thì không cần can thiệp mổ lấy thai mà theo dõi và để chuyển dạ tự nhiên.

Nhưng nếu bà mẹ bị suy hô hấp quá nặng, nếu thai còn ở trong bụng thì việc cấp cứu hồi sức người mẹ sẽ gặp khó khăn. Lúc này sẽ phải giải quyết bằng cách mổ lấy thai, để bụng người mẹ trống, không có sự cản trở về tuần hoàn, hô hấp thì cấp cứu người mẹ sẽ hiệu quả hơn.

4. Hiện tại bằng chứng về ảnh hưởng của COVID-19 lên thai phụ và thai nhi còn ít, chúng ta có những thông tin này từ các đợt dịch trước đây do virus corona như SARS-CoV (2003), MERS-CoV không ạ?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: Khi giở lại những câu chuyện về dịch SARS-CoV và MERS-CoV, thời điểm đó thế giới cũng phải kinh hoàng vì tỷ lệ tử vong của nó rất cao.

Như dịch SARS-CoV, đã có những nghiên cứu thống kê năm 2003 cho thấy tỷ lệ tử vong của phụ nữ mang thai đến 25%. Khoảng 57% phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ bị sẩy thai. Những trường hợp phải sinh non chiếm khoảng 33%, và những người mang thai đủ tháng cho đến ngày sinh thì đứa trẻ bị suy dinh dưỡng trong tử cung.

Rồi đến MERS-CoV người ta thấy tỷ lệ tử vong còn cao hơn nữa, 35,5% đối với mẹ. Các trường hợp thai nhi bị suy hô hấp, sinh non, nằm ICU lên đến 91%.

Về mức độ nguy hiểm thì 2 dịch bệnh SARS-CoV và MERS-CoV là khá cao. Đối với dịch bệnh COVID-19 đang diễn ra thì như tôi đã nói, một nghiên cứu ở Trung Quốc trên 38 thai phụ mắc bệnh thì không có trường hợp nào tử vong và cũng chưa thấy được mối liên quan giữa COVID-19 và vấn đề sẩy thai hay sinh non (cũng có thể do con số còn ít quá).

Gần đây chúng ta cũng thấy một số trường hợp trẻ sơ sinh mới 1 ngày tuổi tử vong do COVID-19. Hay một bệnh viện ở Romania đang truy trách nhiệm của khoa Sản vì đã để cho 10 trẻ sơ sinh mắc bệnh trong khi những người mẹ không bị. Như vậy, chứng tỏ vấn đề nhiễm bệnh có thể là do sau khi trẻ sinh ra thì tiếp xúc với người mắc bệnh và bị lây từ đây, chứ hiện chưa có bằng chứng để kết luận có sự lây truyền từ mẹ sang con.

Chúng ta có thể yên tâm phần nào về mức độ ảnh hưởng của COVID-19 trên phụ nữ mang thai cũng như trên trẻ sơ sinh không đáng kể bằng SARS hay MERS.

5. Trong các bệnh lây nhiễm do virus mà chúng ta đã biết, bệnh nào nếu xảy ra trong thai kỳ có nguy cơ gây dị tật thai nhi cao nhất ạ?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: COVID-19 không lây truyền trong tử cung, nên nó không chịu trách nhiệm cho vấn đề dị tật thai nhi.

Thực tế, dị tật thai nhi trong cộng đồng vẫn có thể xảy ra mà không phải do SARS-CoV-2.

Loại virus có thể gây dị tật bẩm sinh đầu tiên phải kể đến Rubella. Chúng ta cũng đã có giai đoạn rất sợ hãi vì con virus này rồi.

Đối với Rubella, nếu bị nhiễm trong 3 tháng đầu của thai kỳ thì sẽ để lại hậu quả nặng nề cho bé như mù mắt, điếc bẩm sinh, bệnh tim còn ống động mạch, sự phát triển về vận động và tâm thần cũng bị ảnh hưởng.

Theo thống kê có đến 90% phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu bị nhiễm Rubella thai nhi sẽ bị dị tật. Vì vậy, các bà mẹ nếu chẳng may bị nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu thai kỳ thường được khuyên là không nên giữ lại thai. Nếu thai lớn hơn, khoảng 13-16 tuần thì tỷ lệ vào khoảng 20%, có thể để lại ảnh hưởng gọi là Rubella bẩm sinh, nếu trên 20 tuần thì hầu như rất là hiếm xảy ra. Tuy nhiên, hiện tại đã có thuốc chủng ngừa Rubella và thường được tiêm cho trẻ từ khi còn nhỏ nên nguy cơ mẹ bị nhiễm giảm đi rất nhiều.

Một loại virus khác là Zika gây ra tật đầu nhỏ và những bất thường về não. Loại virus này chưa có thuốc chủng ngừa, nhưng ở Việt Nam thì chưa thấy nó có phát triển như ở nước ngoài.

Một căn bệnh khác chúng ta cũng thường hay gặp là thủy đậu do virus Varicella zoster gây ra. Nếu mẹ bầu mắc bệnh trong 3 tháng đầu của thai kỳ thì có 0,4 trường hợp gây ra dị tật bẩm sinh, đứa trẻ cũng sẽ bị tật đầu nhỏ, điếc, mù, và tật ở chân, tay...

Nếu mắc bệnh trong 3 tháng giữa của thai kỳ thì tỷ lệ bị dị tật bẩm sinh ở trẻ lại tăng lên đến 2%. Và với những trường hợp người mẹ mới bắt đầu xuất hiện triệu chứng bệnh vào 5 ngày trước khi sinh hoặc 2 ngày sau khi sinh thì tỷ lệ tử vong của thai nhi tăng cao lên đến 20-30%, vì lúc đó trẻ không được kháng thể của mẹ bảo vệ. Tuy nhiên, đa số các trường hợp trẻ em lúc còn nhỏ đã bị thủy đậu, nên khả năng mắc bệnh trong lúc mang thai mà để lại hậu quả nghiêm trọng như vậy cũng không nhiều.

May mắn là thủy đậu cũng đã có thuốc chủng ngừa. Vì vậy, các bà mẹ trước khi có dự định mang thai thì nên đi tiêm ngừa để bảo vệ cho mẹ và bé.

6. Trong thời gian đang thực hiện cách ly xã hội, nếu đến lịch khám thai định kỳ, thai phụ có nên đi khám không ạ? Họ cần trang bị thế nào khi đến bệnh viện?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: Đây cũng là nỗi lo của phụ nữ mang thai và nhân viên y tế chúng tôi.

Nếu trước đây khi đến ngày khám các chị em chỉ việc đi đến bác sĩ mình đang theo dõi hoặc bệnh viện thì trong thời điểm này, cần thay đổi thói quen một chút.

Tôi đề nghị trước khi đến lịch khám, các chị em nên gọi điện thoại trước đến cơ sở y tế hoặc bác sĩ để hỏi xem có cần thiết phải đi khám hay không. Vì trong thai kỳ có những mốc quan trọng bắt buộc phải đúng hẹn, chẳng hạn như khi thai 11-13 tuần cần siêu âm đo độ mờ da gáy, nếu để quá thời đó thì không còn giá trị nữa. Nhưng nếu chỉ khám thai thông thường thì có thể trì hoãn được.

Do đó, nếu còn e ngại thì tốt nhất là nên có thể gọi điện cho bác sĩ hay cơ sở y tế để được hướng dẫn cụ thể. Nhất là trong trường hợp mẹ bầu có những dấu hiệu nghi ngờ như sốt, ho... thì càng phải liên hệ trước để có sự tiếp nhận một cách an toàn, phù hợp.

Nếu phải đến bệnh viện để khám thai thì cần lưu ý:

- Thứ nhất là không nên đi nhiều người. Tối đa là một người đi cùng, còn nếu các mẹ bầu sức khỏe tốt thì có thể đi một mình, đặc biệt là không dẫn theo trẻ em. Như vậy sẽ tốt hơn khi đi theo quá đông người, tạo ra những điều kiện không thuận lợi trong hoàn cảnh như hiện nay.

- Thứ hai là khi đi cần nhớ đeo khẩu trang, mang theo nước sát khuẩn tay nhanh, chuẩn bị sẵn khăn giấy để nếu lỡ có hắt hơi, ho thì dùng che miệng, sau đó vứt vào thùng rác theo quy định.

Hiện nay, Bộ Y tế cũng công bố đường dây hotline 1900 3228 (Phòng, chống dịch bệnh COVID-19) hoặc các đường dây nóng của các bệnh viện, nếu có thắc mắc thì các chị em cũng có thể liên hệ và xin tư vấn trực tuyến.

>>> Đường dây nóng 25 tỉnh, thành phố tư vấn về dịch bệnh COVID-19

7. Hiện nay các bệnh viện sản khoa đã có triển khai hay dự tính triển khai khám thai tại nhà chưa ạ?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: Cho đến hiện tại thì chưa có bệnh viện sản khoa triển khai khám thai tại nhà. Nhưng theo tôi biết nếu tình hình dịch bệnh COVID-19 vẫn tiếp tục, phải cách ly xã hội thì Bệnh viện Hùng Vương sẽ tính tới phương án khám thai tại nhà trong những trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, để làm được điều này thì phải có kế hoạch triển khai rõ ràng.

8. Thai phụ nên làm gì khi xuất hiện triệu chứng nghi nhiễm COVID-19 như sốt, ho, khó thở?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: Nếu có những dấu hiệu như như sốt, ho, khó thở thì nên liên hệ đến hotline các cơ sở y tế tại địa phương hoặc bệnh viện các chị em đã đi khám thai. Khi đó bác sĩ sẽ có lời khuyên là nên khám thai ở đâu, như thế nào. Đồng thời, nhân viên y tế cũng sẽ chuẩn bị tốt hơn, có đường đi riêng dành cho những người có khả năng nghi nhiễm hoặc nhiễm COVID-19, để đảm bảo an toàn, tránh lây nhiễm chéo cho các bệnh nhân khác cũng như cán bộ y tế.

Tôi nghĩ rằng các chị em nên chuẩn bị sẵn số điện thoại để khi có việc cần thì có thể gọi được. Các số điện thoại này cũng đã được Bộ Y tế công bố. (Đường dây nóng 25 tỉnh, thành phố tư vấn về dịch bệnh COVID-19; 21 đường dây nóng tiếp nhận tin ca bệnh nhiễm virus Corona).

Với những trường hợp này, không nên đi vào bệnh viện khi chưa liên hệ trước, vì nếu rủi mình là người dương tính với COVID-19 thì những người xung quanh, môi trường mình vừa đến cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Ngoài ra, một vấn đề quan trong khác mà các chị em cũng cần lưu ý là cần nhận biết, phân biệt được cảm cúm thông thường với mắc bệnh COVID-19. 2 bệnh này tiên lượng có khác nhau và cảm cúm thông thường thì có thể để tự nhiên trong khoảng 1 tuần là khỏi và không cần có chữa trị gì đặc biệt. Các chị em có thể phân biệt với những triệu chứng sau đây:

Triệu chứng

COVID-19

Cảm lạnh thông thường

Cúm

Sốt

Phổ biến

Hiếm

Phổ biến

Ho khan

Phổ biến

Vừa phải

Phổ biến

Khó thở

Phổ biến

Không

Không

Đau đầu

Đôi khi

Hiếm

Phổ biến

Đau nhức khó chịu trong cơ thể

Đôi khi

Phổ biến

Phổ biến

Đau họng

Đôi khi

Phổ biến

Phổ biến

Mệt mỏi

Đôi khi

Đôi khi

Phổ biến

 

9. Phụ nữ có thai cần lưu ý gì trong chế độ dinh dưỡng mùa COVID-19, thưa BS?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: Để chống lại virus gây bệnh COVID-19 thì hay hơn hết là bằng sức đề kháng của mình. Muốn như vậy thì trong thức ăn cần có nhiều loại thực phẩm cung cấp các loại sinh tố giúp tăng cường đề kháng như vitamin A, C, E… Đồng thời cần tăng cường tập thể dục, trong nhà cũng được nhưng nên xây dựng thói quen này và cũng nên tham khảo những bài tập đặc biệt dành cho phụ nữ mang thai.

Dù đã nghỉ hưu, PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung vẫn còn tham gia giảng dạy tại các trường Đại học Y Dược TPHCM, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, ĐH KHTN. Đồng thời, bà còn là Chủ tịch Hội Phụ Sản TPHCM, Tổng biên tập Tạp chí Thời sự Y học của Hội Y học TPHCM.

10. Bên cạnh chế độ dinh dưỡng, thai phụ cần làm gì để “phòng thủ” trước bệnh COVID-19?

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung: Trong vấn đề phòng bệnh thì tất cả chúng ta đều phải thực hiện, không riêng gì phụ nữ mang thai. Chúng ta cần đeo khẩu trang, rửa tay thường xuyên với xà phòng, đứng cách xa nhau tối thiểu 2m trong trường hợp tiếp xúc với người khác.

Nên mang theo dung dịch sát khuẩn tay nhanh để khi đến chỗ đông người trong trường hợp cần thiết thì có thể rửa tay bất kỳ lúc nào. Hoặc sau khi tay chạm vào các bề mặt như thang máy, sau khi đi vệ sinh, mặt bàn, mặt ghế, bàn phím máy tính, tay nắm cửa… cũng cần được rửa lại ngay.

Chuẩn bị sẵn khăn giấy dùng một lần để che mỗi khi ho, hắt hơi và vứt đúng nơi quy định. Ngoài ra, nên tập các bài tập nhẹ nhàng như yoga để tăng cường sức khỏe.

Môi trường nhà ở cũng nên được lau dọn thường xuyên, nhất là các bề mặt thường xuyên tiếp xúc.

Nên hạn chế đến chỗ đông người vì dễ bị lây nhiễm, nhất là khi sức đề kháng của phụ nữ mang thai bị suy giảm, không nên đến sinh nhật, đám cưới, đám hỏi, thậm chí là đám tang. Khi cần đi khám thai thì nên thực hiện các hướng dẫn tôi đã nói ở trên.

Đặc biệt với những thai phụ có thai trên 28 tuần thì lại càng phải lưu ý nhiều hơn. Vì 28-37 tuần là khoảng thời gian thai vẫn còn là non tháng, và nếu để sinh non trẻ sẽ đối mặt với nhiều nguy cơ như tỷ lệ tử vong cao, khó nuôi. Vấn đề này cần phải lưu ý, không riêng gì trong thời điểm dịch COVID-19 đang diễn ra.

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung - Chủ tịch Hội Y học TPHCM (bìa phải) tặng hoa thay lời cảm ơn tới PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung

Trân trọng cảm ơn Hội Y học TPHCM và PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung đã đồng hành cùng AloBacsi trong chương trình này.

Mời bạn đọc xem lại chương trình livestream cùng PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung TẠI ĐÂY.

Đôi nét về PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung:

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, là nữ sinh trường Gia Long danh tiếng.

Tốt nghiệp Đại học Y Dược TPHCM năm 1978, bà tự nguyện về Bến Tre công tác. 10 năm vừa là trưởng khoa sản Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, vừa là giáo viên kiêm nhiệm Bộ môn Sản phụ khoa của Trường trung học Y tế Bến Tre, tham gia đào tạo 9 khóa y sĩ đa khoa để cung cấp cho mạng lưới y tế tỉnh.

Năm 1988, bà trở về TPHCM công tác tại Bệnh viện Hùng Vương, rồi do Sở Y tế có nhu cầu thành lập khoa phụ sản tại Bệnh viện Nguyễn Trãi nên điều bà sang làm phó khoa ngoại. Đến năm 1990, bà được chuyển trở lại Bệnh viện Hùng Vương.

PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung được giới báo chí trân trọng gọi là “nữ tướng” ngành sản khoa. Nhận nhiệm vụ Phó giám đốc từ năm 1995 đến 2001 và tiếp đó là ở cương vị Giám đốc cho đến tháng 12/2007, bà đã đưa Bệnh viện Hùng Vương từ một cơ sở y tế “8 không” trở thành bệnh viện công lập đầu tiên của TPHCM xây dựng theo chủ trương kích cầu để có một bệnh viện khang trang, hiện đại như ngày nay.

Bà hoàn thành chương trình đào tạo Tiến sĩ y học chuyên ngành sản phụ khoa năm 2003. Đồng thời, với những đóng góp lớn lao cho nền y học nước nhà, TS.BS Vũ Thị Nhung được phong hàm Phó Giáo sư năm 2007, được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao Động hạng Ba năm 2008, Danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú năm 2001 và Thầy thuốc Nhân dân năm 2008.

Với quan niệm nghề nghiệp rõ ràng: Không tắc trách, cậy quyền, một lòng vì bệnh nhân, 40 năm trong ngành y, PGS Vũ Thị Nhung là “bà đỡ” mát tay, thân thiết của không biết bao nhiêu bà bầu, tham gia 40 công trình nghiên cứu khoa học. Trong đó có nhiều công trình nghiên cứu đã được đăng tải trên các tạp chí nước ngoài.

Nghỉ hưu nhưng không nghỉ việc, bà tiếp tục làm chuyên viên cố vấn ban giám đốc Bệnh viện Hùng Vương, vẫn giảng dạy cho học viên sau đại học của Đại học Y Dược TPHCM, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Đại học Khoa học tự nhiên. Đồng thời, vẫn tham gia hội đồng chấm thi sau Đại học, vẫn hướng dẫn học viên cao học, CKII, Nghiên cứu sinh.

Ngoài vai trò Chủ tịch Hội Phụ Sản TPHCM, PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung còn là Tổng biên tập Tạp chí Thời sự Y học của Hội Y học TPHCM.

Nguồn: AloBacsi.com
Rất hữu ích
Hữu ích
Bình thường
Đăng ký nhận tin từ Alobacsi
Đăng ký nhận bản tin nóng nhất về dịch bệnh hàng ngày để chủ động bảo vệ bản thân và gia đình

Chủ đề

Chuyên gia đầu ngành tư vấn về bệnh COVID-19

Mới cập nhật