Logo Alobacsi

Ung thư vú có bao nhiêu loại khác nhau?

23/05/2015 10:12
Ung thư ở những bộ phận khác nhau thì khác nhau. Riêng ung thư vú có thể bắt đầu xuất hiện từ bất kì khu vực nào của vú.

Ung thư vú có thể bắt đầu xuất hiện từ bất kì khu vực nào của vú - các ống dẫn sữa, các tiểu thùy hoặc các mô nằm giữa chúng. Trong phần này, bạn có thể tìm hiểu các loại ung thư vú khác nhau bao gồm cả loại ung thư vú không-xâm-lấn, loại xâm-lấn, ung thư tái phát và ung thư vú di căn. Bạn cũng có thể đọc thêm để hiểu về ung thư vú ở nam giới.

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS)

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS - Ductal Carcinoma In Situ) là loại ung thư không-xâm-lấn phổ biến nhất.

"Ung thư biểu mô" (carcinoma) tên gọi cho bất kì loại ung thư nào có khởi đầu từ lớp bề mặt hoặc các mô biểu bì (kể cả mô tuyến vú) có chức năng bao bọc các cơ quan nội tạng.
"Trong ống dẫn sữa" (ductal) có nghĩa là ung thư xuất phát từ bên trong các ống dẫn sữa.
"Tại chỗ" (in situ) có nghĩa là ''ngay tại khu vực khởi phát ung thư''.

DCIS được xếp vào loại không-xâm - lấn vì nó không lan rộng ra bên ngoài khu vực các ống sữa để vào vùng mô vú bao bọc xung quanh đó. DCIS không đe dọa tính mạng người bệnh nhưng DCIS có thể phát triển thành ung thư xâm-lấn nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Khi đã mắc DCIS, bạn sẽ chịu đựng nguy cơ tái phát ung thư vú hoặc phát triển một ung thư vú mới cao hơn so với người chưa từng mắc ung thư trước đó. Hầu hết các trường hợp tái phát diễn ra trong vòng 5 đến 10 năm sau lần chuẩn đoán ban đầu. Khả năng tái phát là dưới 30%.

Những phụ nữ trải qua phẫu thuật bảo tồn vú (cắt trọn khối u - lumpectomy) đối với DCIS mà không qua xạ trị có nguy cơ tái phát ung thư vú từ 25% đến 30% trong tương lai. Bao gồm cả xạ trị trong kế hoạch chữa trị làm giảm khả năng tái phát xuống còn khoảng 15%.

Nếu ung thư vú quay trở lại sau khi đã điều trị DCIS xong, thể ung thư tái phát có khi vẫn là DCIS và đôi lúc lại là ung thư xâm-lấn. (Bản thân DCIS là loại không-xâm-lấn).

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ (American Cancer Society), hằng năm có khoảng 60.000 ca mắc DCIS được chuẩn đoán tại Hoa Kì, chiếm khoảng 1/5 số ca mới phát hiện ung thư vú.

Có hai lý do chính khiến con số này ngày càng lớn và đang tiếp tục tăng theo thời gian:

- Con người đang sống lâu hơn trước rất nhiều. Khi chúng ta càng già, nguy cơ ung thư vú của chúng ta càng tăng.
- Ngày càng có nhiều người chụp X-quang tuyến vú (mammograms, hay còn gọi là chụp nhũ ảnh) và chất lượng của phương pháp này ngày càng được nâng cao. Với việc kiểm tra tầm soát ngày một tốt hơn, càng có nhiều ca ung thư đang được phát hiện sớm.
Ung thư biểu mô ống dẫn sữa xâm lấn - IDC

Ung thư biểu bì trong ống dẫn sữa xâm lấn (IDC) - Invasive Ductal Carcinoma) đôi khi còn gọi là ung thư biểu mô ông dẫn sữa 'xâm nhập' (infiltrating ductal carcinoma) và là loại ung thư vú thường gặp nhất. Khoảng 80% các ca ung thư vú là loại ung thư vú biểu mô ống dẫn sữa xâm nhập.

"Ung thư biểu mô" (carcinoma) chỉ bất kì loại ung thư nào xuất phát từ lớp bề mặt hoặc các mô biểu bì bao bọc các cơ quan nội tạng - như mô tuyến vú chẳng hạn.

"Ống dẫn sữa" (ductal) tức là ung thư bắt đầu từ trong những ống dẫn sữa ở vú, vốn là những đường ống mang sữa từ các tiểu thùy tạo sữa đến núm vú.

"Xâm lấn" (invasive) có nghĩa là ung thư 'xâm nhập và phá hoại' hoặc lan rộng ra các mô vú khu vực lân cận. Cùng hợp nghĩa lại, ta có "ung thư biểu mô ống dẫn sữa xâm lấn" (IDC) nhằm chỉ loại ung thư phá hủy lớp thành bọc ống dẫn sữa và bắt đầu xâm nhập làm phá hoại các mô vú. Qua thời gian, IDC có thể lan đến các hạch bạch huyết và có khả năng đến cả các vùng khác của cơ thể.

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ (American Cancer Society), khoảng 180.000 phụ nữ mỗi năm nhận ra họ mắc loại ung thư vú xâm lấn. Hầu hết trong số đó được chuẩn đoán là IDC.

Mặc dù IDC có thể ảnh hưởng đến phụ nữ ở bất kì độ tuổi nào, nó trở nên phổ biến hơn ở những người phụ nữ lớn tuổi dần. Hiệp hội Ung thư Mỹ (American Cancer Society) cho biết 2/3 số phụ nữ bị chuẩn đoán mắc IDC nằm trong độ tuổi từ 55 trở lên. IDC cũng gây ra những ảnh hưởng ở nam giới.

Ung thư biểu mô sợi ống tuyến vú (Tubular Carcinoma of the Breast)

Ung thư biểu mô sợi ống ở vú là một phân nhánh nhỏ của IDC (ung thư biểu mô ống dẫn sữa xâm lấn - ung thư loại này khởi đầu từ bên trong ống dẫn sữa ở vú và lan sang cả ra bên ngoài để vào xâm lấn vào vùng mô vú khỏe mạnh).

Ung thư biểu mô sợi ống thường rất nhỏ (chừng 1cm hoặc nhỏ hơn) và có cấu trúc hình ống gọi tên là 'sợi hình ống' (tubule). Những khối u này được xếp có độ ung thư thấp (low-grade), tức là các tế bào trông khá tương tự như tế bào khỏe mạnh bình thường và có xu hướng phát triển chậm chạp.

Có lúc ung thư biểu mô sợi ống chiếm khoảng 1 - 4% trong tổng số các ca ung thư vú. Giờ đây phương pháp chụp nhũ ảnh tầm soát ung thư vú (mammography) đang được ứng dụng rộng rãi.

Tuy nhiên ung thư biểu mô sợi ống đang được chuẩn đoán ngày một phổ biến hơn - thường là trước khi cả bạn hay bác sĩ của bạn có thể nhận ra một khối u. Không có con số chính xác nào nhưng những nghiên cứu khuyến cáo rằng ung thư biểu mô sợi ống có thể chiếm từ không dưới 8% đến 27% tổng số ca ung thư vú ở bất cứ nơi đâu.

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng độ tuổi trung bình của các ca chuẩn đoán ung thư mô sợi ống nằm ở nhóm đầu những năm tuổi 50 mặc dù những phụ nữ bị chuẩn đoán căn bệnh này có thể ở bất kì lứa tuối nào. Loại ung thư này khiếm khi gặp ở nam giới.

Dù ung thư biểu mô sợi ống là một loại ung thư vú xâm lấn, nhưng dường như tính xâm hoại của nó được giảm xuống hiệu quả dưới tác động của các liệu pháp điều trị. Loại ung thư này không có vẻ như sẽ lan rộng ra khỏi vùng vú và được bác sĩ cho là có thể tiên lượng rất tốt.

Ung thư biểu mô dạng tủy ở vú (Medullary Carcinoma of the Breast)

Ung thư biểu mô dạng tủy ở vú là một phân nhánh hiếm gặp của IDC (ung thư biểu mô ống dẫn sữa xâm lấn - một ung thư loại bắt nguồn từ bên trong ống dẫn sữa ở vú và xâm lấn ra cả khu vực bên ngoài), chiếm 3-5% tổng số ca ung thư vú. Sở dĩ được gọi là ung thư biểu mô 'dạng tủy' là vì khối u của nó mềm và có khối lượng thịt giống với một phần 'tủy sống' của não bộ.

Ung thư biểu mô dạng tủy có thể xảy ra với bất kì lứa tuổi nào nhưng thường thì nó ảnh hưởng tới phụ nữ cuối 40 và đầu 50. Ung thư biểu mô dạng tủy hay gặp ở phụ nữ mang gen đột biến BRCA1 hơn. Các nghiên cứu cũng cho thấy ung thư biểu mô dạng tủy phổ biến ở Nhật Bản hơn so với Mỹ.

Ung thư biểu mô dạng tủy có hình dạng xuất hiện rất rõ ràng nhưng lại có phản ứng mờ nhạt. Nói cách khác, chúng trông rất giống như những tế bào ung thư phá hoại bất thường nhưng lại không phản ứng theo cùng một cách như thế.

Ung thư biểu mô dạng tủy không phát triển nhanh chóng và thường không lan rộng ra bên ngoài vùng vú đến các hạch bạch huyết. Vì thế nên việc chữa trị loại ung thư vú này đặc biệt dễ dàng hơn các loại khác.

Ung thư biểu mô dịch nhầy ở vú (Mucinous Carcinoma of the Breast)

Ung thư biểu mô dịch nhầy ở vú - đôi khi còn gọi là ung thư biểu mô dạng keo - là một dạng hiếm gặp của IDC (ung thư biểu mô ống dẫn sữa xâm lấn - ung thư loại này bắt đầu từ bên trong ống dẫn sữa ở vú và lan rộng ra cả vùng mô vú khỏe mạnh lân cận).

Với loại ung thư này, khối u được cấu tạo từ những tế bào dị thường 'trôi nổi' trong chất dịch, vốn là một thành phần quan trọng trong chất nhớt bôi trơn gọi tên là "dịch nhầy".

Thông thường, dịch nhầy bao phủ hầu hết các bề mặt bên trong cơ thể như đường tiêu hóa của chúng ta, phổi, gan và các nội tạng quan trọng khác. Nhiều loại tế bào ung thư (gồm hầu hết các loại tế bào ung thư vú) tiết xuất ra dịch nhầy.

Tuy nhiên, trong ung thư biểu mô dịch nhầy, chất dịch này trở thành một phần của khối u và bao bọc các tế bào ung thư vú. Dưới kính hiển vi, các tế bào ung thư nổi lên nằm rải rác trong các bể dịch nhầy.

Nhà nghiên cứu cho rằng chỉ có khoảng 2-3% ung thư vú xâm lấn là thuần túy ung thư biểu mô dịch nhầy - có nghĩa là đây là loại ung thư duy nhất hiện nay nằm ở bên trong khối u. Khoảng 5% các ca ung thư vú xâm lấn xuất hiện cũng có thành phần chất nhầy bên trong chúng với các loại tế bào ung thư vú khác ở thời điểm hiện nay. Ung thư biểu mô dịch nhầy cực kì hiếm gặp ở nam giới.

Dẫu rằng ung thư biểu mô dịch nhầy có thể được chuẩn đoán ở bất kì nhóm tuổi nào, nó có xu hướng xảy ra ở những phụ nữ sau khi họ đã trải qua thời kì mãn kinh. Một số nghiên cứu đã tìm ra lứa tuổi trung bị nhận chuẩn đoán loại bệnh này nằm ở độ tuổi những năm 60 và đầu 70.

Mặc dù ung thư biểu mô dịch nhầy là một loại ung thư vú xâm lấn, tính phá hoại của nó được giảm đi đáng kể dưới tác dụng của việc chữa trị. Ung thư biểu bì dịch nhầy ít có khả năng lan sang đến các hạch bạch huyết hơn so với các loại ung thư vú khác.

Ung thư biểu mô dạng nhú ở vú (Papillary Carcinoma of the Breast)

Ung thư biểu mô dạng nhú xâm lấn ở vú khá hiếm gặp và chiếm 1-2% các ca ung thư vú xâm lấn. Trong hầu hết các trường hợp, những loại khối u này được chuẩn đoán ở những phụ nữ đã có tuổi và đã trải qua thời kì mãn kinh.

Một ung thư biểu mô dạng nhú thường có một ranh giới rõ ràng và được tạo thành từ những nhú lồi lên nhỏ cỡ ngón tay. Thường thì nó ở cấp độ 2, cấp độ vừa phải trong hệ thước đo từ 1 đến 3 (cấp độ 1 để chỉ các tế bào ung thư có hình dạng và phản ứng như những tế bào khỏe mạnh bình thường và cấp độ 3 miêu tả những tế bào ung thư rất dị thường và phát triển nhanh).

Trong hầu hết các ca ung thư biểu mô dạng nhú xâm lấn, ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS) cũng có mặt. (DCIS là một loại ung thư mà các tế bào ung thư biểu mô của nó bị giới hạn chỉ trong các ống dẫn sữa).

Ung thư biểu mô dạng rây ở vú (Cribriform Carcinoma of the Breast)

Ở ung thu biểu mô dạng rây, các tế bào ung thư xâm nhập vào các mô mỡ (các mô nâng đỡ kết nối tế bào vú) trong cấu trúc phức tạp giữa các ống dẫn sữa và tiểu thùy. Bên trong khối u có các lỗ trống riêng biệt giữa các tế bào ung thư, làm cho nó có hình dáng trông như pho mát Thụy Sĩ.

Ung thư biểu mô dạng rây xâm lấn thì thường xếp vào cấp độ thấp, tức là những tế bào này có hình dạng và phản ứng khá giống với các tế bào vú khỏe mạnh bình thường.

Trong khoảng 5 - 6% các ca ung thư vú xâm lấn, một số phần của khối u có thể xem như là dạng rây. Thông thường người ta cũng bắt gặp một số ung thư biểu mô ống sữa tại chỗ (DCIS) cũng có dạng rây.

Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn (ILC)

Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn (ILC - Invasive Lobular Carcinoma), đôi khi còn gọi là ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập' (infiltrating lobular carcinoma), là loại ung thư vú phổ biến thứ hai, chỉ sau ung thư biểu mô ống sữa xâm lấn (IDC, loại ung thư này bắt đầu ở các ống dẫn sữa và sau đó lan ra ngoài cả khu vực đó).

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ (American Cancer Society), mỗi năm có hơn 180,000 phụ nữ ở Hoa Kì phát hiện ra họ mắc ung thư vú xâm lấn. Khoảng 10% các ca ung thư vú xâm lấn là ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn. (Chừng 80% là ung thư biểu mô ống sữa xâm lấn).

"Ung thư biểu mô" (Carcinoma) dùng để chỉ bất kì loại ung thư khởi đầu ở da hoặc các mô bề mặt bao bọc nội tạng như mô vú chẳng hạn.

"Ở tiểu thùy" (lobular) tức là ung thư khởi đầu từ các tiểu thùy, nơi sản sinh ra sữa rồi qua các ống tuyến vú để sữa đến núm vú.

"Xâm lấn" (invasive) có nghĩa là ung thư 'xâm nhập và phá hoại' hoặc lan rộng ra các khu vực mô vú xung quanh. Khi ghép tất cả lại với nhau, cụm từ "ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn" dùng để gọi tên loại ung thư phá hoại lớp thành bao bọc của tiểu thùy và bắt đầu xâm nhập phá hoại vùng mô mỡ của vú. Cùng với thời gian, ILC có thể lan rộng đến các hạch bạch huyết và khả năng tới cả các bộ phận khác của cơ thể.

Dù cho ILC có thể bắt gặp ở phụ nữ bất kì độ tuổi nào, nó dường như dần phổ biến hơn ở những người cao tuổi hơn. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ (American Cancer Society), 2/3 phụ nữ nhận chuẩn đoán ung thư vú xâm lấn nằm ở nhóm tuổi 55 trở lên. ILC có xu hướng xuất hiện muộn khi người ta càng về già hơn (đầu những năm 60 tuổi) so với ung thư biểu mô ống dẫn sữa xâm lấn (IDC) (giữa cuối những năm 50 tuổi).

Một vài nhà nghiên cứu khuyến cáo rằng việc sử dụng phương pháp thay thế hóc-môn trong suốt và sau thời kì mãn kinh có thể làm tăng nguy cơ mắc ILC.

Ung thư vú dạng viêm - IBC (Inflammatory Breast Cancer)

Ung thư vú dạng viêm (IBC) là một dạng ung thư vú hiếm gặp và có tính phá hoại. Theo Viện Ung bướu Quốc Gia (National Cancer Institute), khoảng 1 - 5% các ca ung thư vú ở Mỹ là ung thư vú dạng viêm - IBC.

IBC thường bắt đầu với vùng vú bị sưng phù và tấy đỏ thay vì là một khối u rõ ràng. IBC có xu hướng phát triển và lan rộng một cách mau chóng với những triệu chứng tồi tệ hơn qua từng ngày hay thậm chí là từng giờ.

Việc phát hiện các triệu chứng và tìm phương pháp điều trị kịp thời là rất quan trọng. Mặc dù IBC là một căn bệnh chuẩn đoán rất nghiệm trọng, hãy hiểu rằng các phương pháp điều trị ngày nay đang có hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh tình tốt hơn hẳn so với trước đây.

Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ - LCIS

Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (LCIS - Lobular Carcinoma In Situ) là một vùng (hay nhiều vùng) có sự phát triển tế bào bất thường, làm tăng cao nguy cơ ung thư vú xâm lấn của người đó sau này.

"Ung thư biểu mô" (Carcinoma) nhằm chỉ bất kì loại ung thư bắt đầu ở da hoặc các mô bề mặt bao bọc nội tạng như mô vú chẳng hạn.

"Ở tiểu thùy" (lobular) nghĩa là những tế bào dị thường bắt đầu lớn dần lên trong tiểu thùy, vốn là những tuyến sản xuất sữa nằm ở một đầu của các ống tuyến vú dẫn sữa.

"Tại chỗ" (in situ) hiểu là sự phát triển bất thường này được duy trì bên trong tiểu thùy mà không lan ra vùng mô xung quanh. Những người bị chuẩn đoán mắc LCIS thường có nhiều hơn một tiểu thùy bị ảnh hưởng.

Mặc cho thực tế là tên gọi của nó đã bao gồm 'ung thư biểu mô' (carcinoma), LCIS không là ung thư vú thực sự. Mà trên hết, LCIS là một dấu hiệu biểu lộ một cá nhân đang có nguy cơ mắc ung thư vú sau này cao-hơn-mức-trung-bình.

Vì vậy, một vài chuyên gia ưu dùng cụm từ 'sự tạo u ở tiểu thùy' (lobular neoplasia) hơn là cụm 'ung thư biểu mô tiểu thùy' (Lobular Carcinoma). 'Sự tạo u' (neoplasia) là sự tập hợp các tế bào bất thường.

LCIS thường được chuẩn đoán trước thời kì mãn kinh, hầu hết trong độ tuổi 40-50. Dưới 10% phụ nữ bị chuẩn đoán LCIS đã trải qua thời kì mãn kinh. LCIS vô cùng hiếm gặp ở nam giới.

LCIS được xem là một tình trạng hiếm gặp, nhưng chúng ta không biết chắc chắn có bao nhiều người bị ảnh hưởng bởi nó. Đó là do LCIS không gây ra các triệu chứng và thường không xuất hiện trên ảnh chụp nhũ quang. Xu hướng phát hiện ra nó thường là nhờ kết quả kiểm tra sinh thiết ở ngực vì những lí do khác.

Ung thư vú ở nam giới

Ung thư vú ở nam giới là bệnh hiếm khi xảy ra. Chưa tới 1% trong tổng số tất cả ca ung thư vú xảy ra ở nam giới. Vào năm 2013, khoảng 2.240 nam bệnh nhân bị chuẩn đoán mắc căn bệnh này. Với nam giới, nguy cơ bị chuẩn đoán ung thư vú trong cả cuộc đời chỉ 1 trên 1.000.

Bạn có lẽ đang nghĩ: Đàn ông không có vú, vậy làm sao họ lại mắc ung thư vú? Sự thật là cả trai và gái, đàn ông và phụ nữ đều có những mô vú. Các loại hóc-môn khác nhau ở nam và nữ kích thích mô vú phát triển cho tới khi khi vùng ngực hoàn thiện.

Cơ thể con trai và đàn ông thường không tạo ra nhiều hóc-môn kích thích phát triển ngực. Hệ quả là mô vú của họ thường giữ ở mức bằng phẳng hoặc nhỏ. Nhưng bạn cũng có lẽ đã thấy một số người đàn ông hay con trai có bộ ngực cỡ lớn hoặc trung bình.

Thường thì những bộ ngực này vốn chỉ là một đống tụ các chất béo, mỡ. Nhưng đôi khi một số đàn ông có thể phát triển mô tuyến vú thực sự bởi vì họ dùng một số loại thuốc hoặc có mức hóc-môn bất thường.

Do ung thư vú ở nam giới hiếm khi bắt gặp, chỉ một vài trường hợp được đưa vào nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu về ung thư vú ở nam giới thì rất nhỏ. Nhưng khi số ít các nghiên cứu này được tập hợp lại, chúng ta có thể tìm hiểu thêm một số điều từ chúng.

Bệnh Paget núm vú (Paget's Disease of the Nipple)

Bệnh Paget núm vú là một dạng ung thư vú hiếm gặp, khi mà các tế bào ung thư tập trung ở trong và xung quanh núm vú. Loại ung thư này thường gây ảnh hưởng tới các ống dẫn sữa của núm vú trước tiên (những đường ống nhỏ chứa sữa), rồi sau đó lan rộng ra bề mặt núm vú và quầng vú (vùng da hình tròn tối màu xung quanh núm vú). Núm vú và quầng vú thường có vảy, gây ngứa, đỏ và cảm giác khó chịu.

Theo viện ung bướu quốc gia Mỹ (National Cancer Institute), bệnh Paget núm vú chiếm chưa tới 5% trong tổng số ca ung thư vú ở Mỹ. Việc để ý các triệu chứng của nó là rất quan trọng vì thực tế có tới 97% những người mắc bệnh Paget cũng có ung thư, hoặc là DCIS hoặc là ung thư xâm lấn, nằm ở đâu đó trong bộ ngực của họ. Những thay đổi bất thường ở núm vú và quầng vú thường là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ung thư vú xuất hiện.

Các bác sĩ vẫn chưa chắc chắn bệnh Paget phát triển bằng cách nào. Có một khả năng là các tế bào ung thư lớn dần lên từ bên trong ống dẫn sữa trong vú và sau đó lan ra ngoài bề mặt núm vú.

Điều này có thể lý giải vì sao quá nhiều người mắc bênh Paget núm vú lại có ung thư giai đoạn 2 ở trong vú. Một giả thuyết khác cho rằng những tế bào núm vú bản thân nó tự trở thành ung thư. Điều này có thể giải thích một bộ phận nhỏ những người: (1) chỉ có bệnh Paget ở núm vú mà thôi, hoặc (2) có ung thư giai đoạn 2 xuất hiện hoàn toàn riêng biệt với bệnh Paget.

Bệnh Paget núm vú thường gặp ở phụ nữ hơn, nhưng giống như những dạng ung thư vú khác, nó cũng có thể ảnh hưởng đến nam giới. Căn bệnh này thường phát triển ở độ tuổi sau 50. Theo viện ung bướu quốc gia (National Cancer Institute), độ tuổi trung bình của bệnh nhân bị chuẩn đoán căn bệnh này ở nữ là 62 và ở nam là 69.

U vú dạng lá (Phyllodes Tumors of the Breast)

Những khối u vú dạng lá thì hiếm gặp và chỉ chiếm chưa đầy 1% tổng số u vú. Cái tên "dạng lá" (phyllodes) biểu lộ sự thật rằng các tế bào của khối u phát triển theo hình dạng giống chiếc lá. Những cái tên khác cho loại khối u này là "phylloides tumor" và "cystosarcoma phyllodes". Khối u dạng lá thường phát triển rất nhanh chóng nhưng lại hiếm khi lan ra khỏi vùng vú.

Mặc cho hầu hết các khối u dạng lá là u lành tính (không phải ung thư), một số u lại ác tính (tính ung thư) và một số khác lại mang tính 'giữa chừng' (vừa lành tính, vừa ác tính). Cả ba loại u dạng lá này đều phát triển mau chóng và cần có phẫu thuật để giảm nguy cơ một khối u dạng lá quay trở lại trong ngực (tái phát cục bộ).

Các khối u dạng lá có thể bắt gặp ở bất cứ lứa tuổi nào, nhưng chúng có xu hướng phát triển khi người phụ nữ ở trong những năm tuổi 40. Những khối u dạng lá lành tính thường được phát hiện ở độ tuổi trẻ hơn so với những khối u dạng lá ác tính. U dạng lá vô cùng hiếm gặp ở nam giới.

Sự tái phát và di căn ung thư vú

Chúng tôi hiểu bạn thực sự không muốn nói về chủ đề này, về sự tái phát và di căn ở ung thư vú. Nếu bạn từng mắc ung thư vú thì khả năng tái phát và lan rộng (di căn) của ung thư vú luôn ở trong bạn. Bạn có thể đang đọc phần này vì bạn lo sợ khả năng này có thể xảy ra, hoặc cũng có lẽ vì khả năng xấu ấy đã xảy đến với bạn rồi.

Hãy ghi nhớ rằng sự tái phát hay di căn ung thư vú (ung thư vú tiến triển giai đoạn sau) thì KHÔNG đồng nghĩa với vô vọng. Nhiều phụ nữ tiếp tục sống lâu và sống hiệu quả với ung thư vú trong giai đoạn này. Những kinh nghiệm điều trị lần này của bạn có lẽ cũng có đôi chỗ khác biệt so với lần trước.

Có rất nhiều lựa chọn cho việc chăm sóc sức khỏe của bạn và cũng rất nhiều cách để lên phác đồ điều trị cho bạn thông qua việc chuẩn đoán, điều trị và hơn thế nữa.

Bởi vì có quá nhiều lựa chọn nên đây sẽ là một phần nội dung khá dài. Bạn có lẽ chỉ muốn đọc một vài trang một lúc thôi. Bạn có thể thấy khó khăn để tập trung, suy nghĩ thẳng thắn và ghi nhớ những gì bạn đọc. Điều này hoàn toàn bình thường khi bạn cảm thấy lo lắng, không chắc chắn và quá sức.

Theo Pham Le Thao Duyen - bcnv.org.vn

Danh bạ ngành y

BS Tố Uyên tư vấn qua điện thoại từ 17g30-19g thứ tư

BS Tố Uyên tư vấn qua điện thoại từ 17g30-19g thứ tư

Chiều 22/11, BS.CK1 Nội tổng quát Võ Thị Tố Uyên online tư vấn từ 17g30-19g. Quý bạn đọc có thể gọi số 028.6686 5474 để gặp BS Uyên trong khung thời gian này.

Hỗ trợ 24/7