Facebook ngành Y

PGS.BS Huỳnh Wynn Trần: Vitamin C và virus Corona

Về vấn đề có nên uống thêm vitamin C để tăng cường hệ miễn dịch chống virus Corona, PGS.BS Huỳnh Wynn Trần đã viết bài để để trả lời chi tiết hơn về vitamin C, những hiểu sai về vitamin C và hệ miễn dịch qua câu chuyện của TS. Pauling Linus.

Vitamin C có vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch

Vitamin C là một vitamin cực kỳ quan trọng cho cơ thể do chúng ta không thể tự tổng hợp được. Cơ thể chúng ta lấy trực tiếp vitamin C từ thức ăn bên ngoài. Vitamin C cần thiết cho hệ miễn dịch hoạt động, là chất chống oxy hoá mạnh, đóng vai trò bảo vệ tế bào khỏi sự tấn công từ các virus hay vi khuẩn. Vitamin có trong các đại thực bào (chuyên giết vi khuẩn/vi trùng). Vitamin C cũng cần thiết cho việc lập trình tế bào chết (apotosis).

Tầm quan trọng của vitamin được nhắc đến trong dịch bệnh Scurvy (hay còn gọi là bệnh Barlow) thế kỷ 16-19 khi hai triệu thuỷ thủ châu Âu chết, bị chảy máu nướu, do thiếu vitamin C khi đi biển nhiều tháng không có rau.

Năm 1927, nhà hoá học Hungary Szent-Györgyi tổng hợp chất gọi hexuronic acid, có khả năng kháng bệnh Scurvy, ông tạm gọi là antiscorbutic. Đến năm 1932, nhà hoá học người Mỹ Charles Glen King chứng minh hexuronic acid có khả năng chữa bệnh scurvy và hexuronic acid được đổi tên là ascorbic acid, (antiscorbutic), gọi tắt là vitamin C.

Theo BS Huỳnh Wynn Trần, vitamin C là một vitamin cực kỳ quan trọng đối với hệ miễn dịch. Chỉ uống vitamin C không có tác dụng ngăn ngừa virus Corona, cảm cúm, hay ung thư. Vitamin C tốt nhất được lấy từ trái cây rau quả tươi (cam, táo, bưởi..) thay vì uống viên vitamin C - Ảnh: AloBacsi tổng hợp

Những hiểu sai về vitamin C do Pauling Linus

Sau khi xác định được vitamin C chữa bệnh Scurvy, vài nhà khoa học đã quá lạc quan về vitamin C này và cho rằng vitamin C có thể đóng nhiều vai trò quan trọng hơn cho cơ thể. Cụ thể vitamin C có thể tăng cường hệ miễn dịch và vitamin C có thể chữa cả ung thư.

Một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất đã gây ra hiểu lầm tai hại nhất về vitamin C là TS Linus Pauling, người từng đoạt 2 giải Nobel hoá học (1954) và Nobel hoà bình (1962).

Pauling là tiến sĩ khoa học, không phải là bác sĩ nhưng ông tham gia một số nghiên cứu lâm sàng, rút ra nhiều quan sát và kết luận. Về mặt hoá học, ông được xem là cha đẻ của thuyết Quantum Hoá Học, nhưng về mặt y khoa và lâm sàng, các phát biểu và quan điểm của ông về vitamin C sau này được chứng minh là sai lầm, để lại những hậu quả tai hại.

Năm 1970, Pauling xuất bản quyển "Vitamin C và bệnh cảm" cho rằng uống 1000mg vitamin C mỗi ngày sẽ giảm tỉ lệ bệnh cảm xuống 45% (trong khi đó người bình thường chỉ cần 75mg (nữ) đến 90 mg (nam) vitamin C mỗi ngày). Năm 1976, Pauling trong quyển sách tái bản về vitamin C của mình, ông đề nghị liều cao hơn, vài ngàn mg vitamin C mỗi ngày. Đến quyển thứ 3 của Pauling, tựa là "Vitamin C và ung thư", Pauling cho rằng liều cực cao (megadose) vitamin C có thể ngăn ngừa ung thư hiệu quả.

Ở một quyển sách khác tên "Làm thế nào sống lâu và sống tốt hơn?" Pauling cũng cho rằng uống vitamin C liều cực cao có thể cải thiện bệnh tim mạch, ung thư. Chính Pauling cũng uống vitamin C liều cao, khoảng 12,000mg mỗi ngày để ngăn ngừa ung thư. Năm 1993 ông được chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt. Sau khi được xạ tri, Pauling nói rằng uống vitamin C liều cao có thể làm chậm ung thư của ông thêm 20 năm. Ông mất năm 1994 vì ung thư.

Ngày nay, khi xem các quan sát và phân tích của Pauling về các nghiên cứu thời 1960s, chúng ta hiểu thêm tầm quan trọng của nghiên cứu đối chứng và kinh nghiệm lâm sàng trong y khoa. Các quan sát của TS Pauling dựa phần lớn vào các ca riêng lẻ, dựa vào các lý thuyết logic (nếu đã tốt cho hệ miễn dịch thì liều càng cao sẽ càng tốt hơn), chứ không lường được tính phức tạp của bệnh lý trong thực tế. Bệnh cảm hay ung thư là một ví dụ. Đây là những bệnh có nhiều yếu tố như tuổi tác, cơ địa, bệnh lý nền, địa lý, dinh dưỡng nên không thể dựa vào một số quan sát logic và rút ra kết luận.

Năm 1974, BS Terene Anderson và cộng sự từ trường Y khoa University of Toronto xuất bản nghiên cứu đối chứng lâm sàng ngẫu nhiên để so sánh hiệu quả của uống 1000mg vitamin C với bệnh cảm ở 2349 bệnh nhân từ 10 đến 65 tuổi như TS Pauling công bố. Nghiên cứu cho thấy uống vitamin C liều cao và hay không uống vitamin C đều không có sự khác biệt đáng kể về chữa trị triệu chứng hay ngăn ngừa bệnh cảm mùa đông. Tuy nhiên, bên nhóm uống vitamin C có thể có chút cải thiện triệu chứng ở ngày đầu tiên.

Một nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên năm 1975 từ Viện Sức Khỏe Hoa Kỳ (NIH) cho thấy uống Vitamin C không có tác dụng ngăn ngừa cảm thường. Tuy nhiên, nhóm bệnh nhân "nghĩ" mình đã uống vitamin C (thực tế là giả dược) thường mau hết cảm hơn. Điều này gợi ý tâm lý có thể tác dụng tích cực lên hệ miễn dịch.

Chuyện vitamin C và ung thư là một ví dụ khác cho thấy Pauling quan sát về lâm sàng có nhiều khiếm khuyết.

Bệnh viện Mayo Clinic sau đó đã làm các nghiên cứu đối chứng giữa bệnh nhân mắc bệnh ung thư và vitamin C liều cao, 10,000mg vào các năm 1979, 1983, và 1985. Tất cả các nghiên cứu này cho thấy bệnh nhân ung thư uống vitamin C liều cao có kết quả không khác với bệnh nhân không uống. Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra uống vitamin C liều cao không có tác dụng ngăn ngừa ung thư.

Thời điểm 1970s đến 1990s, Pauling là một khoa học gia xuất sắc đoạt 2 giải Nobel. Vì vậy, các quan sát và nghiên cứu của ông thường được tin tưởng. Mặc dù các nhiều nghiên cứu sau này chứng minh các quan sát này là sai, hình ảnh và danh tiếng của Pauling làm nhiều người quên mất nên phân tích lại những gì ông nói.

Ngày nay, vẫn còn gần một nửa người Mỹ vẫn uống vitamin C hàng ngày. Họ xem đây là cách hữu hiệu tăng cường hệ miễn dịch và chống cảm. Những phát biểu của Pauling, dù sai, vẫn được nhiều công ty và cá nhân sau này dùng để bán sản phẩm vitamin C. Thị trường Vitamin C là thị trường 23 tỉ USD năm 2012 nên dễ hiểu luôn có những quảng cáo quá sự thật về chất này. Trang Vox, trang nổi tiếng tổng hợp tin mạng truyền thông tại Hoa Kỳ viết bài kết luận "Pauling Linus đã dụ người Mỹ tin vào vitamin C thế nào?".

Trường Y Khoa Harvard có bài về vitamin C và chống cảm cúm. Nghiên cứu cho thấy uống vitamin C chỉ có tác dụng chút xíu (marginal benefit) và cần phải uống hằng ngày ở mức khoảng 200mg. Bài cũng dựa vào nghiên cứu tổng hợp từ 29 nghiên cứu trên 11,000 bệnh nhân. Các chuyên gia từ Harvard cho rằng cách tốt nhất để có vitamin C là từ rau quả tươi.

Uống vitamin C không ngăn ngừa được virus Corona

Như vậy, dựa vào các nghiên cứu về cảm cúm và vitamin C, chúng ta có thể đoán rằng uống vitamin C không thể ngăn ngừa được virus Corona. Dựa trên các nghiên cứu đã công bố, cái có thể giúp chúng ta có thể ngăn ngừa virus Corona là một hệ miễn dịch tốt. Uống vitamin C có thể có tác dụng tâm lý, như có thêm vài anh lính tinh nhuệ, nhưng cải thiện và nâng cấp cả hệ miễn dịch, như cải thiện cả một bộ máy quân đội, mới là cách tốt nhất ngăn ngừa bệnh.

Uống vitamin C liều cao hay thường xuyên có thể hại

Cũng như nhiều loại thức ăn khác, uống quá nhiều vitamin C có thể gây hại. Liều dùng vitamin C hiện nay là 75mg với nữ và 90mg với nam. Viện Sức Khỏe Hoa Kỳ khuyến cáo không nên uống quá 2000mg vitamin C mỗi ngày. Tác dụng phụ gồm đau bao tử, ói mửa, và tiêu chảy. Một nghiên cứu khác cho thấy uống vitamin C thường xuyên có thể tăng rủi ro sạn thận gấp đôi so với không uống.

Tóm lại

- Vitamin C là một vitamin cực kỳ quan trọng do vai trò không thể thiếu trong hệ miễn dịch. Chúng ta không thể tự tổng hợp vitamin C mà phải lấy trực tiếp từ thức ăn
- Uống vitamin C không có tác dụng ngăn ngừa virus Corona, cảm cúm, hay ung thư
- Vitamin C tốt nhất được lấy từ trái cây rau quả tươi (cam, táo, bưởi..) thay vì uống viên vitamin C.

FB Huynh Wynn Tran

AloBacsi tổng hợp
Rất hữu ích
Hữu ích
Bình thường

Tin liên quan

Mới cập nhật

Đọc nhiều