Logo Alobacsi

CIH_2012_FTT

Các phương pháp điều trị chuẩn ung thư tuyến giáp theo khuyến cáo của ASCO

Ung thư giáp thường được điều trị bằng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp điều trị khác nhau. Bài viết này sẽ giới thiệu cho bạn biết về các phương pháp điều trị chuẩn cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp theo khuyến cáo của ASCO. Bạn cũng có thể sẽ được biết các phương pháp điều trị khác nhau mà bác sĩ sử dụng cho những bệnh nhân ung thư tuyến giáp.
“Chuẩn chăm sóc” có nghĩa là phương pháp điều trị tốt nhất, tuy nhiên khi đưa ra kế hoạch điều trị, bác sĩ có thể cung cấp cho bệnh nhân thông tin về các thử nghiệm lâm sàng. Một thử nghiệm lâm sàng là một nghiên cứu thử nghiệm một cách tiếp cận điều trị mới. Các bác sĩ muốn biết liệu phương pháp điều trị mới có an toàn, hiệu quả và có tốt hơn các điều trị khác không. Thử nghiệm lâm sàng có thể thử nghiệm một loại thuốc mới, một sự kết hợp mới các phương pháp điều trị chuẩn, liều mới của thuốc chuẩn đang được sử dụng hoặc các phương pháp điều trị khác. Bác sĩ có thể giúp bạn xem xét tất cả các lựa chọn điều trị của bạn. Để tìm hiểu thêm về các thử nghiệm lâm sàng, hãy xem phần “Giới thiệu về các thử nghiệm lâm sàng” và các phần “Nghiên cứu mới nhất”.

cac phuong phap dieu tri chuan ung thu tuyen giap theo khuyen cao cua asco - anh 1
Siêu âm tuyến giáp. Ảnh minh họa: Internet

Tổng quan điều trị

Trong chăm sóc bệnh nhân ung thư, các bác sĩ tuy khác chuyên ngành nhưng sẽ làm việc cùng nhau để đưa ra kế hoạch điều trị tổng thể cho bệnh nhân. Đó là nhóm đa chuyên khoa. Đối với ung thư tuyến giáp, nhóm này gồm một bác sĩ phẫu thuật, một bác sĩ nội khoa ung thư, một bác sĩ xạ trị ung thư, và một bác sĩ nội tiết chuyên về điều trị với hormone, các tuyến, và hệ nội tiết. Nhóm chăm sóc ung thư gồm nhiều chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác như trợ lý bác sĩ, y tá ung thư, nhân viên xã hội, dược sĩ, nhân viên tư vấn, bác sĩ dinh dưỡng và những người khác.

Ung thư giáp thường được điều trị bằng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp điều trị khác nhau. Mô tả về những phương pháp điều trị này được liệt kê bên dưới, theo sau là những nét chính về các phương pháp điều trị ung thư phổ biến theo giai đoạn bệnh (xem giai đoạn bệnh).

Các phương pháp và các khuyến cáo điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố, gồm:

- Loại ung thư và giai đoạn ung thư

- Các tác dụng phụ có thể xảy ra

- Mong muốn của bệnh nhân

- Tình trạng của bệnh nhân

Bạn hãy dành thời gian để tìm hiểu về các phương pháp điều trị và đừng quên đặt các câu hỏi về những điều bạn chưa rõ. Nói chuyện với các bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho bạn về những vấn đề bạn quan tâm và mong đợi.

Điều trị ung thư thường dựa trên các hướng dẫn được khuyến cáo bởi nhóm chuyên gia. Mặc dù hầu hết ung thư tuyến giáp đều có thể trị được, nhưng có thể có những ý kiến khác nhau về cách lựa chọn điều trị ung thư tuyến giáp, đặc biệt là phương pháp được sử dụng để kết hợp điều trị và thời điểm điều trị. Khuyến khích bệnh nhân hiểu rõ và cảm thấy thoải mái với kế hoạch điều trị mà họ chọn. (Bạn có thể tìm hiểu thêm về “ Đưa ra quyết định điều trị”.)

Phẫu thuật

Phẫu thuật là cắt bỏ khối u và một phần mô lành xung quanh. Phẫu thuật còn được gọi là cắt bỏ, đây là phương pháp điều trị chính cho ung thư tuyến giáp. Bác sĩ ngoại khoa ung thư là một bác sĩ chuyên về điều trị ung thư bằng phẫu thuật. Tùy thuộc vào kích thước của nốt ung thư giáp, các phương pháp phẫu thuật thường dùng gồm:

- Cắt thùy giáp: Cắt bỏ thùy tuyến giáp cùng với nốt ung thư.

- Cắt tuyến giáp gần toàn bộ: Cắt bỏ hầu hết tuyến giáp chỉ để lại một phần nhỏ tuyến giáp.

- Cắt toàn bộ tuyến giáp: Cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp

Có nhiều kĩ thuật phẫu thuật khác nhau có thể sử dụng cho phẫu thuật cắt tuyến giáp:

- Cắt tuyến giáp chuẩn: Phẫu thuật viên rạch một đường nhỏ gần nền hoặc giữa cổ. Đường rạch cho phép phẫu thuật viên tiếp cận trực tiếp tuyến giáp của bệnh nhân để thực hiện phẫu thuật. Tại một số trung tâm ung thư, kỹ thuật phẫu thuật mới hơn đang được sử dụng để giảm hoặc tránh tạo sẹo cổ.

- Cắt tuyến giáp nội soi: Trong kĩ thuật này, phẫu thuật viên rạch một đường nhỏ ở cổ. Phẫu thuật tương tự như phẫu thuật tuyến giáp chuẩn ngoại trừ có sử dụng dụng cụ nội soi và màn hình video để hướng dẫn thủ thuật.

- Cắt tuyến giáp bằng robot: Phẫu thuật viên rạch một đường ở vị trí khác, ở nách, đường chân tóc ở cổ, hoặc ở ngực, và sau đó sử dụng một công cụ robot để thực hiện phẫu thuật tuyến giáp. Tuy nhiên cắt bỏ tuyến giáp bằng robot không phải là phẫu thuật được khuyến cáo.

Không phải tất cả các phương pháp phẫu thuật đều được khuyến cáo cho tất cả bệnh nhân. Vì thế bệnh nhân nên trao đổi với bác sĩ kĩ càng về phương pháp điều trị.

Nếu có bằng chứng hoặc nguy cơ di căn của ung thư đến các hạch bạch huyết vùng cổ, phẫu thuật viên cũng có thể tiến hành phẫu tích ở cổ. Đây là phẫu thuật để loại bỏ các hạch bạch huyết ở vùng cổ. Phẫu thuật này được gọi là phẫu thuật có vét hạch bạch huyết.

Nhìn chung, các biến chứng của phẫu thuật tuyến giáp có thể bao gồm tổn thương các tuyến cận giáp gần đó, tuyến có vai trò trong điều hòa nồng độ Calci máu, ngoài ra còn có nguy cơ chảy máu hoặc nhiễm trùng vết mổ. Nếu trong lúc phẫu thuật, các dây thần kinh chi phối cho thanh quản bị tổn thương thì có thể gây khàn giọng tạm thời hoặc vĩnh viễn hoặc chất giọng “thở”.

Nếu không có tuyến giáp, cơ thể ngừng sản xuất hormone tuyến giáp là hormone rất cần thiết cho chức năng của cơ thể. Điều trị hormone thay thế , thường uống thuốc hàng ngày, là giải pháp tốt nhất. Bệnh nhân cũng có thể phải bổ sung thêm vitamin D và canxi nếu chức năng tuyến cận giáp bị suy yếu sau phẫu thuật.

Nếu một khối u không thể loại bỏ được bằng phẫu thuật thì gọi là u không thể cắt bỏ. Bác sĩ sẽ đưa ra các phương pháp điều trị khác.

Trước khi phẫu thuật, hãy nói chuyện với nhóm chăm sóc sức khỏe của bạn về các tác dụng phụ có thể xảy ra từ loại phẫu thuật cụ thể mà bạn sẽ được thực hiện. Tìm hiểu thêm về các khái niệm cơ bản về phẫu thuật ung thư.

Điều trị hormone

Bệnh nhân được phẫu thuật thường cần điều trị hormone giáp. Bên cạnh mục đích dùng để thay thế hormone giáp cần thiết cho cơ thể, thuốc hormone giáp có thể làm chậm sự phát triển của bất kì tế bào ung thư biệt hóa còn lại sau phẫu thuật.

Hormone giáp thay thế là levothyroxine (Levothroid, Levoxyl, Synthroid, Tirosint, Unithroid, và các tên biệt dược khác). Levothyroxine thường được dùng hàng ngày vào cùng thời điểm trong ngày, để cơ thể được bổ sung hormone liên tục. Ngoài ra, nhớ nói chuyện với bác sĩ của bạn về tất cả các loại thuốc khác mà bạn đang sử dụng, bao gồm cả các thành phần bổ sung trong chế độ ăn như sắt hoặc canxi, để tránh tương tác với hormone giáp thay thế. Đọc thêm về các lời khuyên để uống thuốc đúng cách.

Các thuốc thay thế hormone giáp có thể có một vài tác dụng phụ. Đôi khi ở một số bệnh nhân phát ban hoặc rụng tóc trong tháng đầu tiên của điều trị.

Cường giáp là tình trạng có quá nhiều hormone giáp. Tình trạng này có thể gây sụt cân, đau ngực, nhịp tim nhanh, nhịp tim không đều, đau bụng, tiêu chảy, cảm giác nóng, vã mồ hôi, loãng xương.

Thiểu năng giáp là tình trạng có quá ít hormone giáp. Thiểu năng giáp có thể gây mệt mỏi, tăng cân, da tóc khô, cảm giác lạnh. Nhu cầu về liều hormone giáp là khác nhau ở mỗi bệnh nhân và loại u, liều có thể thay đổi theo tuổi và cân nặng của bệnh nhân. Bác sĩ sẽ theo dõi nồng độ hormone giáp của bạn bằng xét nghiệm máu một cách đều đặn. Nói với bác sĩ của bạn về các dấu hiệu cho rằng đã đến lúc phải điều chỉnh liều để xem cho rằng có thể có nghĩa là nó là thời gian để điều chỉnh liều bổ sung hormone.

Xạ trị với đồng vị Iod phóng xạ

Tuyến giáp hấp thu gần như toàn bộ lượng iod đưa vào cơ thể. Vì vậy, một loại xạ trị sử dụng Iod phóng xạ là đồng vị I-131 (còn được gọi RAI: Radioactive Iodine) có thể tìm và phá hủy các tế bào tuyến giáp còn lại sau phẫu thuật, cái mà có thể lan rộng ra ngoài tuyến giáp. Bác sĩ ra chỉ định sử dụng iod phóng xạ thường là bác sĩ chuyên ngành nội tiết hoặc là bác sĩ y học hạt nhân.

Điều trị iod phóng xạ là một lựa chọn cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hoặc thể nang. Iod phóng xạ được sử dụng để điều trị cho những bệnh nhân thể biệt hóa đã lan tới hạch bạch huyết hoặc di căn xa. Một liều nhỏ thăm dò có thể được sử dụng trước khi điều trị đầy đủ để đảm bảo tế bào u sẽ hấp thu I-131. Bệnh nhân ung thư giáp thể tủy và ung thư giáp không biệt hóa không được điều trị với I-131.

I-131 được dùng ở dạng lỏng hoặc dạng viên nén. Bệnh nhân dùng I-131 để phá hủy tế bào u có thể phải nằm viện 2-3 ngày, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, gồm cả liều được sử dụng. Bệnh nhân được khuyến khích uống nhiều nước để giúp I-131 đi nhanh hơn trong cơ thể. Trong vòng một vài ngày, phần lớn phóng xạ được loại bỏ. Hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn về cách để hạn chế phơi nhiễm phóng xạ cho những người khác, gồm cả trẻ em, những người ở xung quanh bạn trong thời gian điều trị và những ngày sau đó.

Để chuẩn bị cho xạ trị với I-131 sau phẫu thuật, bệnh nhân thường được yêu cầu chế độ ăn ít iod trong khoảng 2-3 tuần trước đó. Ngoài ra, bệnh nhân cũng sẽ được yêu cầu ngừng tạm thời hormon giáp thay thế hoặc tiêm TSH tái tổ hợp (Thyrogen) khi vẫn dùng hormon thay thế. Nếu ngừng hormon thay thế trong thời gian chuẩn bị điều trị phóng xạ, bệnh nhân có khả năng có các tác dụng phụ của suy giáp (xem ở trên).

Nên thảo luận với bác sĩ về các tác dụng phụ ngắn hạn và lâu dài của điều trị với I-131 là cần thiết. Trong ngày điều trị đầu tiên, bệnh nhân có thể buồn nôn và nôn. Trong những trường hợp nhất định, đau và phù có thể thấy ở vùng tập trung nhiều iod phóng xạ. Vì iod bị cô đặc ở tuyến nước bọt, bệnh nhân có thể bị sưng tuyến nước bọt. Điều này có thể gây khô miệng.

Liều cao hoặc liều tích lũy iod phóng xạ có thể gây vô sinh, nhất là ở nam giới. Phụ nữ được khuyến cáo tránh mang thai ít nhất 1 năm sau khi điều trị với I-131. Đôi khi bệnh nhân có thể cần phải lặp lại điều trị sau đó. Tuy nhiên, có một tổng liều iod phóng xạ tối đa cho phép, khi đạt đến thì không dùng phương pháp này nữa.

Xạ trị ngoài

Xạ trị ngoài là một loại khác của xạ trị, dùng tia X năng lượng cao từ một máy bên cơ thể để phá hủy tế bào ung thư. Bác sĩ chuyên về xạ trị ngoài được gọi là bác sĩ chuyên ngành xạ trị ung thư. Một liệu trình xạ trị ngoài thường bao gồm một số phương pháp điều trị cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Khi điều trị ung thư tuyến giáp, trong quá trình xạ trị bệnh nhân thường được điều trị ngoại trú, trong bệnh viện hoặc phòng khám, 5 ngày một tuần trong khoảng 5-6 tuần.

Đối với ung thư giáp, xạ trị ngoài chỉ được sử dụng trong những trường hợp nhất định, thường là ung thư giáp giai đoạn muộn khi đã di căn tới những vùng trọng yếu của ở cổ như khí quản, thanh quản hoặc thực quản. Xạ trị thường được thực hiện sau phẫu thuật, tập trung vào một vùng cụ thể, để xạ trị chỉ tác động lên các tế bào ung thư ở vị trị này.

Tác dụng phụ phụ thuộc vào liều và vùng điều trị, có thể có đỏ da, nuốt đau, ho, khàn giọng từng lúc, buồn nôn, mệt mỏi. Hầu hết tác dụng phụ biến mất sớm sau khi khi điều trị kết thúc.

Hóa trị

Hóa trị sử dụng thuốc (hóa chất) để phá hủy tế bào ung thư, thường bằng cách làm ngừng sự phát triển và phân chia của tế bào ung thư. Hóa trị được thực hiện bởi bác sĩ nội khoa ung thư-một bác sĩ chuyên về điều trị ung thư bằng thuốc. Một lịch trình hóa trị, thường gồm nhiều chu kì cụ thể trong một khoảng thời gian. Bệnh nhân có thể nhận 1 thuốc ở một thời điểm hoặc có thể kết hợp các thuốc khác nhau trong cùng thời điểm.

Hóa trị toàn thân đưa hóa chất vào máu để đến tế bào ung thư toàn cơ thể. Cách thông thường để thực hiện hóa trị là đặt 1 đường truyền vào trong tĩnh mạch bằng kim hoặc uống thuốc dạng viên nén hoặc viên nang. Mục đích của hóa trị là tiêu diệt tế bào u còn lại sau phẫu thuật, làm chậm sự phát triển của khối u, hoặc để giảm các triệu chứng.

Tác dụng phụ của hóa trị phụ thuộc vào từng cá nhân và liều sử dụng, nhưng có thể gồm: mệt mỏi, nguy cơ nhiễm trùng, buồn nôn và nôn, rụng tóc, chán ăn, tiêu chảy. Những tác dụng phụ này thường biến mất sau khi điều trị kết thúc.

Điều trị trúng đích

Điều trị trúng đích là phương pháp điều trị nhắm vào các gen, protein hoặc các mô cụ thể mà chúng góp phần vào sự phát triển và sinh tồn của ung thư. Đây là loại điều trị ngăn chặn sự phát triển và lây lan của các tế bào ung thư trong khi hạn chế tổn thương cho các tế bào bình thường.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy không phải tất cả các khối u đều có các đích điều trị giống nhau. Để xác định phương pháp điều trị hiệu quả nhất, bác sĩ có thể cho làm các xét nghiệm để xác định các gen, protein và bản chất khối u. Điều này giúp các bác sĩ có chiến lược điều trị phù hợp hơn với từng bệnh nhân. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đang được thực hiện nhằm tìm ra những phân tử đích đặc hiệu trong từng loại ung thư tuyến giáp khác nhau và các phương pháp điều trị mới nhắm vào các phân tử đích đó. Đối với ung thư tuyến giáp thể nhú và thể nang, FDA đã chấp nhận cho 2 liệu pháp nhắm trúng đích:

Năm 2013, FDA chấp nhận một liệu pháp điều trị trúng đích là thuốc sorafenib (Nexavar) cho giai đoạn muộn hoặc ung thư tuyến giáp biệt hóa thất bại với liệu pháp I-131. Tác dụng phụ thường gặp của sorafenid bao gồm: phản ứng ở da tay da chân hoặc vùng da khác, tiêu chảy, mệt mỏi, giảm cân, tăng huyết áp.

Năm 2015, FDA chấp nhận liệu pháp đích lenvatinib (Lenvima, E7080) cho ung thư tuyến giáp biệt hóa giai đoạn muộn khi thất bại với phẫu thuật, điều trị với I-131 hoặc cả 2. Tác dụng phụ thường gặp của lenvatinib bao gồm: tăng huyết áp, giảm ngon miệng, giảm cân nặng, buồn nôn.

Đối với ung thư tuyết giáp thể tủy (MTC), có 2 liệu pháp đích khác được FDA chấp nhận:

Năm 2011, FDA chấn nhận vandetanib viên nén (Caprelsa, zd6474), liệu pháp đích này được biết đến là loại ức chế tyrosine kinase. Cụ thể, hiện tại vandetanib là điều trị chuẩn cho đối tượng người trưởng thành khi mà bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể tủy không thể loại bỏ bởi phẫu thuật, nếu bệnh nặng hơn hoặc nếu đã di căn đến các cơ quan khác của cơ thể.

Thuốc được dùng hằng ngày. Liều điển hình của vandetanib là 300mg. Tác dụng phụ thường gặp: tiêu chảy, viêm đại tràng, nổi ban, buồn nôn, tăng huyết áp, đau đầu, mệt mỏi, giảm ngon miệng và đau dạ dày. Thêm vào đó, nhiều tác dụng phụ lên tim và hô hấp có thể xảy ra. Có thể xét nghiệm thường xuyên nên làm như kali máu, calci, magie, và TSH để theo dõi tác dụng phụ của thuốc lên cơ thể.

Năm 2012, FDA chấp nhận liệu pháp ức chế tyrosine kinase khác cho bệnh nhân ung thư tuyết giáp thể tủy di căn với thuốc cabozantinib (Cometriq, Cabometyx, XL184). Liều dùng được khuyến cáo là uống 1 viên 140mg/ ngày, Tác dụng phụ có thể là táo bón, đau dạ dày, tăng huyết áp, thay đổi màu tóc, mệt mỏi, buồn nôn. Ngoài ra là một số vấn đề nghiêm trọng của đại tràng.

Trước khi bắt đầu với liệu pháp điều trị đích, hãy trao đổi với bác sĩ của bạn về các tác dụng phụ có thể xảy ra đối với từng loại thuốc cụ thể và cách quản lý các tác dụng phụ này.

Hóa trị hoặc liệu pháp điều trị đích như là một phần kế hoạch điều trị

Tại thời điểm này, việc sử dụng hóa trị toàn thân và liệu pháp điều trị đích để điều trị ung thư tuyến giáp được quyết định dựa trên từng cá nhân và thường được đưa ra như là một phần của thử nghiệm lâm sàng.

Các loại thuốc điều trị ung thư liên tục được đánh giá. Trao đổi với bác sĩ của bạn thường là cách tốt nhất để tìm hiểu về các loại thuốc được kê toa, mục đích của chúng và các tác dụng phụ hoặc tương tác của chúng với các thuốc khác.

Điều trị triệu chứng và tác dụng phụ

Điều trị ung thư thường gây ra tác dụng phụ. Ngoài việc điều trị nhằm làm chậm, ngừng hoặc loại bỏ ung thư, một phần quan trọng không kém là phần chăm sóc bệnh nhân ung thư nhắm làm giảm các triệu chứng và tác dụng phụ. Cách tiếp cận này được gọi là chăm sóc giảm nhẹ hoặc chăm sóc hỗ trợ, bao gồm hỗ trợ bệnh nhân với các nhu cầu về thể chất, tình cảm, cảm xúc và các nhu cầu xã hội

Chăm sóc giảm nhẹ là biện pháp điều trị tập trung vào giảm nhẹ triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống, và hỗ trợ bệnh nhân và gia đình của họ. Bất kỳ cá nhân nào, bất kể tuổi tác hay chủng tộc và giai đoạn ung thư đều có thể được chăm sóc giảm nhẹ. Tốt nhất là bắt đầu sớm chăm sóc giảm nhẹ khi điều trị ung thư.

Mọi người bắt đầu điều trị ung thư cùng một lúc họ sẽ được điều trị giảm tác dụng phụ. Trong thực tế, bệnh nhân nhận bắt đầu cùng lúc cả 2 hướng điều trị này có triệu chứng ít nghiêm trọng hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn và các báo cáo cho thấy họ hài lòng với việc điều trị hơn.

Điều trị giảm nhẹ là lĩnh vực khá rộng, thường bao gồm thuốc, thay đổi chế độ dinh dưỡng, các kỹ thuật hỗ trợ thư giãn, hỗ trợ cảm xúc và các liệu pháp khác. Bạn cũng có thể nhận được phương pháp điều trị giảm nhẹ tương tự như những phương tiện để loại bỏ ung thư, chẳng hạn như hóa trị, phẫu thuật hoặc xạ trị. Trao đổi với bác sĩ của bạn về mục tiêu trong kế hoạch điều trị.

Trước khi bắt đầu điều trị, hãy trao đổi với nhóm chăm sóc sức khỏe của bạn về các tác dụng phụ có thể có của kế hoạch điều trị cụ thể và các lựa chọn chăm sóc giảm nhẹ của bạn. Trong và sau khi điều trị, hãy chắc chắn thông báo cho bác sĩ của bạn hoặc một thành viên nhóm chăm sóc sức khỏe khác nếu bạn đang gặp vấn đề để có thể giải quyết nhanh nhất có thể. Tìm hiểu thêm về các khái niệm cơ bản về chăm sóc giảm nhẹ.

Điều trị theo giai đoạn

Hầu như tất cả ung thư tuyến giáp đều được điều trị bằng phẫu thuật. Nếu ung thư tuyến giáp chỉ nằm trong các mô của cổ, cả ở tuyến giáp và trong các hạch bạch huyết, phẫu thuật thường sẽ là phương pháp điều trị đầu tiên. Bệnh nhân giai đoạn muộn cũng có thể được điều trị bằng phẫu thuật, nhưng các phương pháp điều trị khác có thể được thực hiện trước. Các thử nghiệm lâm sàng có thể được khuyến cáo ở bất kỳ giai đoạn nào như là một lựa chọn điều trị.

Liệu pháp hormon và liệu pháp iod phóng xạ chỉ được dùng cho ung thư tuyến giáp tế bào nhú, nang, và Hurthle. Các loại ung thư tuyến giáp khác không được điều trị bằng tuyến giáp iodine phóng xạ hoặc liệu pháp hormon tuyến giáp.

- Giai đoạn I: Phẫu thuật, liệu pháp hocmon, liệu pháp Iot phóng xạ có thể sau phẫu thuật.

- Giai đoạn II: Phẫu thuật, liệu pháp hocmon, liệu pháp Iot phóng xạ có thể sau phẫu thuật.

- Giai đoạn III: Phẫu thuật, liệu pháp hocmon, liệu pháp Iot phóng xạ hoặc xạ trị ngoài có thể sau phẫu thuật.

- Giai đoạn IV: Phẫu thuật, liệu pháp hocmon,  liệu pháp Iot phóng xạ, xạ trị ngoài, liệu pháp điều trị trúng đích, hóa trị. Xạ trị có thể sử dụng để giảm đau.

Ung thư tuyến giáp di căn

Nếu ung thư đã lan rộng ra ngoài tuyến giáp đến các cơ quan khác, chẳng hạn như xương hoặc phổi, nó được gọi là ung thư tuyến giáp di căn hoặc giai đoạn IV. Ngoài ra, tất cả các khối u tuyến giáp không biệt hóa được phân loại là giai đoạn IV tại thời điểm chẩn đoán, bất kể kích thước khối u, vị trí, hoặc lan rộng.

Nếu chẩn đoán là ung thư tuyến giáp giai đoạn IV, bạn nên trao đổi với các bác sĩ có kinh nghiệm trong việc điều trị ung thư tuyến giáp. Các bác sĩ có thể có những ý kiến khác nhau về kế hoạch điều trị tiêu chuẩn một cách tốt nhất. Ngoài ra, các thử nghiệm lâm sàng có thể là một lựa chọn. Tham khảo thêm ý kiến thứ hai trước khi bắt đầu điều trị, bạn sẽ cảm thấy thoải mái với kế hoạch điều trị đã chọn của mình.

Kế hoạch điều trị của bạn có thể kết hợp nhiều phương pháp như: phẫu thuật, liệu pháp hormon, liệu pháp iod phóng xạ, xạ trị ngoài, liệu pháp trúng đích và hóa trị. Các thử nghiệm lâm sàng về phương pháp điều trị mới cũng có thể được khuyến cáo. Chăm sóc giảm nhẹ rất quan trọng để giảm các triệu chứng và tác dụng phụ

Đối với hầu hết bệnh nhân, chẩn đoán ung thư di căn rất nặng nề và đôi khi rất khó chịu. Bệnh nhân và gia đình của họ được khuyến khích trao đổi về cảm nhận của họ đối với các bác sĩ, y tá, nhân viên xã hội, hoặc các thành viên khác của nhóm chăm sóc sức khỏe. Một nhóm hỗ trợ có thể là có ích để trao đổi với các bệnh nhân.

Thuyên giảm và nguy cơ tái phát

Thuyên giảm là khi ung thư không thể được phát hiện trong cơ thể và không có triệu chứng. Điều này cũng có thể được gọi là “không có bằng chứng về bệnh” (NED).

Thuyên giảm có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn. Sự không chắc chắn này khiến nhiều người lo lắng rằng ung thư sẽ trở lại. Điều quan trọng là phải trao đổi với bác sĩ của bạn về khả năng ung thư trở lại. Hiểu được nguy cơ tái phát và các lựa chọn điều trị có thể giúp bạn cảm thấy sẵn sàng hơn nếu ung thư trở lại.

Nếu ung thư quay trở lại sau điều trị ban đầu, nó được gọi là ung thư tái phát. Khối u có thể trở lại ở vị trí khối u trước đây (được gọi là tái phát tại chỗ), gần đó (tái phát gần), hoặc vị trí khác (tái phát xa). Khi điều này xảy ra, một chu kỳ kiểm tra mới sẽ bắt đầu lại để tìm hiểu càng nhiều càng tốt về sự tái phát. Sau kiểm tra, bạn và bác sĩ sẽ trao đổi về phương án điều trị.

Thông thường kế hoạch điều trị sẽ bao gồm các phương pháp điều trị được mô tả ở trên, chẳng hạn như phẫu thuật, liệu pháp i-ốt phóng xạ, liệu pháp điều trị đích, xạ trị ngoài, liệu pháp hormon và hóa trị. Tuy nhiên, chúng có thể kết hợp với nhau hoặc sẽ có tiến triển điều trị khác nhau. Bác sĩ có thể đề nghị các thử nghiệm lâm sàng đang được nghiên cứu để điều trị ung thư tái phát. Cho dù bạn chọn chương trình điều trị nào, chăm sóc giảm nhẹ sẽ rất quan trọng để giảm các triệu chứng và tác dụng phụ.

Tái phát ung thư sẽ làm cho bệnh nhân thường có tâm trạng hoài nghi hoặc sợ hãi. Bệnh nhân được khuyến khích nói chuyện với nhóm chăm sóc sức khỏe của mìnhtâm trạng này và hỏi về các dịch vụ hỗ trợ để đối phó với tình trạng này.

Nếu điều trị không hiệu quả

Không phải lúc nào điều trị cũng đạt kết quả tốt. Nếu ung thư không thể kiểm soát và chữa khỏi, sẽ được gọi là ung thư tiến triển hoặc ung thư giai đoạn cuối.

Chẩn đoán này rất căng thẳng, và đối với nhiều người, ung thư tiến triển rất khó để trao đổi. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải cởi mở nói ra và trung thực với bác sĩ và nhóm chăm sóc sức khỏe của bạn để thể hiện tâm trạng cảm xúc, sở thích và mối quan tâm của bạn. Đội ngũ chăm sóc sức khỏe sẵn sàng giúp đỡ, và nhiều thành viên trong nhóm có kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức đặc biệt để hỗ trợ bệnh nhân và gia đình của họ. Đảm bảo một người có tinh thần thoải mái và điều trị đau tốt là vô cùng quan trọng.

Bệnh nhân ung thư tiến triển và tiên lượng sống dưới 6 tháng có thể muốn xem xét chăm sóc giảm nhẹ được gọi là nhà an dưỡng cuối đời. Nhà an dưỡng cuối đời được thiết kế để cung cấp chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể cho những người bệnh ở giai đoạn cuối của cuộc đời.

Bạn và gia đình của bạn được khuyến khích nói chuyện với nhóm chăm sóc sức khỏe về các lựa chọn chăm sóc an dưỡng cuối đời bao gồm: an dưỡng tại nhà, một trung tâm an dưỡng đặc biệt hoặc các địa điểm chăm sóc sức khỏe khác. Chăm sóc điều dưỡng và chăm sóc điều dưỡng đặc biệt và các thiết bị đặc biệt có thể làm cho việc ở nhà trở thành một lựa chọn khả thi cho nhiều gia đình.

Sau cái chết của một người thân yêu, nhiều người cần sự hỗ trợ để giúp họ đối phó với sự mất mát này.

Nguồn tham khảo:
https://yhoccongdong.com/thongtin/cac-phuong-phap-dieu-tri-ung-thu-tuyen-giap/

Lê Hoa (Tổng hợp)

Bezut1
Click chọn theo tỉnh, thành

Cơ quan quản lý Dược phẩm Pháp Khuyến cáo: Kháng sinh quinolon có thể gây tàn tật vĩnh viễn

Ủy ban đánh giá nguy cơ Cảnh giác dược của Cơ quan Quản lý dược phẩm châu Âu (PRAC) vừa khuyến cáo, cần giới hạn chỉ định các kháng sinh fluoroquinolon nói riêng và các kháng sinh quinolon (đường uống, đường tiêm hoặc dạng hít) nói chung sau cuộc rà soát tác dụng phụ gây tàn tật vĩnh viễn được báo cáo mới đây.

Nattoenzym_hot3
Milkraft_11

Đối tác

CIH_2012_FTP
Hỗ trợ 24/7