Logo Alobacsi

FTT_KardiQ10_26.4

Amidan và những điều cần biết

Các amiđan vùng hầu họng có chức năng chặn bắt các vi khuẩn, vi-rút và vi nấm có hại xâm nhập vào cơ thể qua đường mũi-miệng.
Các amiđan họng, là hai khối mô lympho của họng mà thường biết đến với tên gọi amiđan khẩu cái

Các amiđan não, là hai nhân nằm sâu trong hai thùy thái dương và có vai trò trong các xúc cảm, các trạng thái như sợ hãi, lo lắng, stress, gây gổ, tình dục…

Các amiđan tiểu não hay hạnh nhân tiểu não - tức là thùy IX của tiểu não.

Trong mọi trường hợp, thuật ngữ amiđan xuất phát từ tiếng Hi Lạp cổ (phiên âm thành amugdálê) có nghĩa là amande (hạnh nhân) do liên quan đến hình dáng của chúng.

Để thuận tiện cho danh pháp tiếng Việt và cũng vì đã thành thói quen, chúng tôi đề nghị gọi tất cả đều là 'amiđan' kèm theo tên từng vị trí giải phẫu của chúng: amiđan não, amiđan tiểu não, amiđan họng hay khẩu cái, amiđan hầu hay amiđan mũi-hầu (tiếng Anh là adenoids, tiếng Pháp là végétations adénoides - VA), amiđan vòi, amiđan lưỡi.

Và cần nhớ là trong tiếng Anh và Pháp, amiđan (amygdala, amygdale) thường được gọi rất phổ biến là tonsil, tonsille; và thủ thuật cắt amiđan (amygdalectomy/amygdalectomie) còn được gọi là tonsillectomy/tonsillectomie.

Theo danh pháp giải phẫu quốc tế mới: thuật ngữ 'amiđan' được dùng cho amiđan não, thuật ngữ 'tonsil' dùng cho các amiđan họng và thuật ngữ 'tonsil tiểu não' dùng cho amiđan của tiểu não.

Giải phẫu và vai trò của amidan vùng hầu họng

amidan va nhung dieu can biet - anh 1

amidan va nhung dieu can biet - anh 2Amiđan họng là tên gọi của hai khối mô lymphô nằm hai bên phía sau họng-miệng (còn gọi là amiđan khẩu cái). Hai amiđan lớn này cùng với các amiđan nhỏ khác họp thành vòng mô lymphô Waldeyer, bao gồm: các amiđan mũi-hầu nằm ở phía sau hốc mũi, các amiđan vòi, các amiđan họng hay khẩu cái và các amiđan lưỡi.

Các amiđan vùng hầu họng có chức năng chặn bắt các vi khuẩn, vi-rút và vi nấm có hại xâm nhập vào cơ thể qua đường mũi-miệng, và tạo kháng thể giúp tạo ra sự đề kháng của cơ thể giống như một "tiền đồn" bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây bệnh.

Vai trò bảo vệ miễn dịch này thể hiện rõ rệt trong giai đoạn trước 6 - 8 tuổi, sau đó sẽ giảm dần và đến tuổi "teen" thì chức năng bảo vệ cơ thể qua trung gian miễn dịch sẽ được đảm nhiệm bởi các cơ quan khác như lách, tủy xương...

Khi bị nhiễm khuẩn: các amiđan vùng hầu họng sưng to, có các triệu chứng như ngạt mũi, nhiều khi phải thở đường miệng, khò khè, đau họng, khó nuốt, khó ngủ, sưng các hạch cổ và các vấn đề về tai.

Khi amiđan bị viêm nhiễm kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, vai trò bảo vệ cơ thể không còn nữa và thay vào đó là các đợt viêm nhiễm làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và chất lượng sống của người bệnh. Ở trẻ em, viêm amiđan có thể gây các biến chứng xa: thấp tim, viêm khớp, viêm thận...

Viêm amidan mạn tính

Viêm amiđan mạn tính có biểu hiện khác nhau giữa trẻ con và người lớn.

Viêm amiđan mạn tính ở trẻ con: thứ phát sau một rối loạn miễn dịch tại chỗ trong những năm đầu đời và có thể do lạm dụng kháng sinh. Biểu hiện lâm sàng bằng đau họng lặp đi lặp lại, kéo dài, với các hạch bạch huyết sưng to ở cổ, kèm mệt mỏi.

Khám thấy họng đỏ, các amiđan viêm cứng, có lớp bao màu trắng nhợt hay vàng che phủ, cũng có thể teo hoặc mềm, nặn chảy ra dịch đục hay mủ. Có các hạch cổ viêm mạn dưới góc hàm. Thử bạch cầu tăng, CRP tăng.

Tiến triển mạn tính, trẻ chậm lớn và chậm tăng cân, học hành chậm, có các biến chứng toàn thân hay tại chỗ (mũi-xoang, tai, khí-phế quản). Dùng kháng sinh ít hiệu quả. Điều trị triệt để bằng cắt amiđan.

Viêm amiđan mạn tính ở người lớn: có đặc điểm là phản ứng xơ-sẹo quan trọng của các amiđan đi kèm với giảm khối lượng mô lymphô, tuy vậy các amiđan cũng có thể tăng kích thước (amiđan quá phát) ảnh hưởng đến sự phát âm cũng như giấc ngủ của người bệnh.

Các triệu chứng tại chỗ nặng vừa phải: đau họng một bên từng lúc kèm với đau tai, hơi thở hôi, trong đàm có các mảnh như bã đậu hôi thối, cơn ho kích ứng. Không có các dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân. Khám thấy các amiđan nhỏ, bị kẹt giữa các cột trụ, các hốc amiđan đầy bã đậu, sờ nắn thấy các cục xơ sẹo, nhìn thấy các nang vàng nhạt do các hốc bị tắc.

Diễn biến mạn tính, lành. Tuy vậy có thể bị các biến chứng tại chỗ (ổ ápxe trong amiđan, viêm tấy quanh amiđan) hoặc toàn thân, và cũng rất kinh điển là cần phát hiện một tổn thương mạn tính của amiđan trong khi xác định một bệnh thận hay một bệnh thấp nhiễm trùng.

Chỉ định cắt amiđan

'Cắt amiđan' thường được hiểu là phẫu thuật cắt bỏ amiđan họng khỏi ngách bên của họng - được gọi là hốc amiđan. Ở trẻ con, các amiđan mũi-hầu thường được cắt bỏ cùng với amiđan họng.

Amiđan mũi-hầu to nhất ở trẻ 3 tuổi và sau đó sẽ nhỏ dần, ở người lớn chỉ còn lại dấu tích nên thường không cần phải cắt. Cắt amiđan ở trẻ con thường được trì hoãn để không làm suy giảm hệ thống miễn dịch của đứa trẻ, ngoại trừ những trường hợp nhiễm trùng nặng cần phải cắt amiđan sớm.

Mặc dù việc cắt amiđan có sụt giảm sau năm 1950, đó vẫn là loại phẫu thuật được làm nhiều nhất ở trẻ con. Cắt amiđan được chỉ định cho những trường hợp sau đây:

- Amiđan quá to gây khó nuốt, khó thở, rối loạn giấc ngủ, hội chứng ngưng thở khi ngủ, ngủ ngáy, rối loạn phát âm…

- Amiđan bị nhiều đợt viêm cấp: ≥ 7 đợt viêm amiđan nhiễm trùng trong một năm, ≥ 5 đợt viêm amiđan nhiễm trùng mỗi năm trong hai năm trước đó, hoặc ≥ 3-4 đợt viêm amiđan nhiễm trùng mỗi năm trong ba năm trước đó. Đây là những chỉ định tuyệt đối cho cắt amiđan.

- Viêm amiđan có biến chứng như: áp xe amiđan, áp xe quanh amiđan, thấp tim, viêm khớp, viêm thận.

- Viêm amiđan mạn với hốc mủ bã đậu, gây hôi miệng thường xuyên.

- Cắt amiđan đôi khi cũng được chỉ định cho những người đau mạn tính do sạn amiđan.

Các phương pháp cắt amiđan

Cắt amiđan là một trong những phẫu thuật phổ biến nhất, vài thí dụ: ở Phần Lan, với 5.000.000 dân, có khoảng 14.000 ca cắt amiđan mỗi năm; ở Hoa Kỳ có 300.000 trường hợp cắt amiđan mỗi năm. Cắt amiđan gây biến chứng đáng kể, đau nghiêm trọng sau mổ thường kéo dài 10-14 ngày và có khi lâu đến 3 tuần.

Ít nhất trong 50 năm qua, cắt amiđan được thực hiện bằng cách phẫu tích amiđan khỏi lá cân bao quanh và được gọi là cắt amiđan 'hoàn toàn' hay 'cắt ngoài bao'. Các vấn đề đau và chảy máu đã làm nổi lên gần đây phương pháp cắt amiđan 'gần hoàn toàn' hay 'cắt mở bao' nhằm giảm bớt các biến chứng này.

Phương pháp được chấp nhận nói chung cho cắt amiđan 'hoàn toàn' sử dụng dao mổ và phẫu tích tù hoặc đốt điện, mặc dù các dao siêu âm hay laser cũng được sử dụng. Làm ngừng chảy máu bằng đốt điện, cột chỉ, và dùng thrombin tại chỗ.

Phẫu tích và cắt amiđan bằng dao mổ: Dao mổ là dụng cụ được các thầy thuốc tai-mũi-họng ưa thích và được xem là phương pháp tiêu chuẩn trong cắt amiđan. Hiện có 18,7% số ca cắt amiđan sử dụng kỹ thuật này (Walner 2007).

So với đốt điện lưỡng cực thì cắt amiđan bằng dao mổ có các ưu điểm là ít gặp chảy máu sau mổ, ít làm tổn thương mô lành xung quanh và lành hốc amiđan nhanh hơn, tuy vậy thời gian mổ dài hơn và lượng máu mất khi bóc tách trong mổ nhiều hơn có ý nghĩa.

Phẫu tích và đặt thòng lọng: Dùng kẹp phooc-xep hay dùng kéo và một vòng thòng lọng để cắt amiđan, mặt mô để lại được cầm máu bằng dao điện. Chảy máu sau mổ tối thiểu. Phương pháp này trước đây được sử dụng nhiều nhất nhưng nay đang được thay thế rộng rãi bằng các kỹ thuật khác.

Cắt amidan bằng dao điện đơn cực: Ưu điểm của phẫu thuật là ít mất máu, thời gian phẫu thuật ngắn hơn. Tuy nhiên, do nhiệt lượng tỏa ra từ đầu cắt đơn cực là khá cao (400oC - 600oC), tổn thương do nhiệt sâu đến 2 cm nên gây ra nhiều tổn thương cho các mô xung quanh, đau sau mổ nhiều hơn. Tỷ lệ chảy máu muộn sau mổ cao nên ngày nay phương pháp này được thay thế dần bằng các phương pháp khác (Walner 2007).

Cắt amiđan bằng dao điện lưỡng cực: Ưu điểm của phẫu thuật là hạn chế được tình trạng chảy máu trong lúc mổ, thời gian phẫu thuật ngắn, nhiệt độ tỏa ra từ đầu cắt đốt không cao (60oC-100oC) nên hạn chế được tổn thương mô xung quanh, đau sau mổ ít hơn so với cắt bằng dao điện đơn cực.

Hơn nữa tỷ lệ chảy máu muộn sau cắt amiđan bằng phương pháp này thấp nên được các phẫu thuật viên Tai Mũi Họng sử dụng khá nhiều hiện nay.

Cắt amiđan họng và các amiđan mũi-hầu bằng sóng cao tần (Radiofrequency coblation): Thuật ngữ 'coblation' có xuất xứ và được ghép từ hai chữ 'controlled ablation', nghĩa là sự cắt bỏ có kiểm soát, sử dụng sóng cao tần đơn cực truyền qua các điện cực cắm vào amiđan.

Nguyên lý của phương pháp là kết hợp sóng cao tần với dung dịch mặn ion-hóa làm phá vỡ các liên kết phân tử mà không dùng nhiệt (nhiệt độ chỉ 45o - 80oC), amiđan sẽ giảm kích thước sau vài tuần. Đây là một phương pháp nhẹ nhàng gần đây được sử dụng rộng rãi (16% theo Walner 2007). Tiến hành dưới gây mê, có thể thực hiện làm nhiều kỳ.

Thao tác dễ, rất ít đau sau mổ, hốc amiđan mau lành, sớm ăn trở lại bình thường (trung bình sau 2 - 4 ngày), người bệnh có thể đi học hay đi làm ngay. Trong nhiều trường hợp, các trẻ mổ ngày thứ Sáu tuần này thì ngày thứ Hai tuần tiếp theo đã có thể đi học trở lại bình thường. Chỉ định cho những amiđan to, có thể cân nhắc sử dụng cho các viêm amiđan mạn tính hay tái phát.

Cắt amiđan bằng dao mổ siêu âm (Harmonic scalpel): Dùng năng lượng siêu âm làm rung lắc lưỡi dao ở 55kHz, vừa cắt vừa làm đông máu, khi mổ không cần đeo kính.

Cắt chuẩn xác, nhiệt tối thiểu (chỉ 80oC) ít gây tổn thương mô xung quanh và đau sau mổ ít hơn so với đốt điện. Tuy nhiên, thời gian phẫu thuật kéo dài hơn cũng như tỷ lệ chảy máu muộn sau mổ cao hơn và thời gian lành thương cũng kéo dài hơn nên phẫu thuật bằng dao mổ siêu âm hiện chưa được sử dụng rộng rãi (tỷ lệ thực hiện chiếm 0,9% trong tổng số các phẫu thuật cắt amiđan được thực hiện - Haegner và cộng sự 2002, Willging và cộng sự 2003).

Cắt amiđan bằng dùng nhiệt hàn gắn mô (Thermal tissue welding tonsillectomy): Kỹ thuật mới dùng đơn thuần năng lượng nhiệt để bít kín và chia cắt mô. Không lan tỏa nhiệt nên nhiệt độ xung quanh chỉ cao hơn thân nhiệt bình thường 2 - 3oC. Đau tối thiểu sau mổ (không cần thuốc ngủ giảm đau), không phù, không gặp chảy máu thứ phát, kết quả hồi phục nhanh.

Sử dụng một kìm phooc-xep đặc biệt có điện thế thấp. Một dòng điện trực tiếp được kiểm soát dùng để làm nóng một đoạn dây kim loại 0,4 mm được bọc trong đầu của phooc-xep.

Phạm vi hoạt động chỉ giới hạn trong một vùng hẹp 0,4 mm, đủ để hàn gắn đa số các mạch máu trong lớp vỏ amiđan, tiếp sau là một thì thứ hai có nhiệt độ cao, ngắn, để cắt và phẫu tích mô.

Kết quả là có được một diện phẫu tích sạch với thương tổn tối thiểu do nhiệt, không có chảy máu hoặc thành than như trong đốt điện hay laser. Khi có vài động mạch lớn chảy máu, phải cầm máu lại cũng với phooc-xep nói trên hoặc đốt với một dao điện lưỡng cực khác.

Cắt amiđan bằng Carbon dioxide laser: Tiến hành dưới gây tê, dùng cho người bệnh ngoại trú. Quét qua mỗi amiđan 8 - 10 lần, mất khoảng 20 phút. Hút khói ra ngoài miệng. Tổn thương do nhiệt khá nhiều nên gây đau sau mổ nhiều hơn, thời gian hồi phục lâu hơn và tỷ lệ sẹo xấu cao hơn so với các phương pháp khác.

Thường phải làm nhiều kỳ nên chi phí cao. Không phù hợp cho trẻ nhỏ và những người bệnh hay lo lắng. Khoảng đầu những năm 2000 trở lại đây, tại Hoa Kỳ không còn sử dụng phương pháp này nữa (Walner 2007).

Cắt amiđan bằng dụng cụ vi phẫu tích (microdebrider): Dụng cụ này là một máy cạo quay vòng kèm với hút liên tục thường dùng trong phẫu thuật xoang. Gồm một canuyn hay một ống nối với một bộ phận cầm tay, sau đó gắn vào một động cơ đạp chân và một máy hút.

Dụng cụ này loại bỏ phần tắc nghẽn của amiđan và vẫn bảo tồn được lớp vỏ bao. Đau hậu phẫu ít hơn, lành chóng hơn và các biến chứng muộn ít hơn. Tuy nhiên chảy máu muộn đôi khi xảy ra với mất máu lượng nhiều.

Hiện nay, tỷ lệ thực hiện phương pháp này chỉ chiếm 0,9% tổng số các ca cắt amiđan tại Mỹ (Walner 2007). Cắt một phần amiđan được sử dụng cho các amiđan to, không dùng cho những trường hợp nhiễm trùng mạn tính hay tái phát.

Theo GS.TS.BS Phạm Kiên Hữu - ThS.BS Trịnh Đình Hoa
BV Đại học Y dược TPHCM

Bạn cần biết

Chữa hội chứng ruột kích thích bằng viên thuốc chứa đầy vi khuẩn

Một nghiên cứu vừa công bố của Anh đã trình làng viên thuốc con nhộng độc đáo chứa đầy vi khuẩn, hứa hẹn đẩy lùi một hội chứng phiền toái mà 1/5 dân số mắc phải.

Đối tác

FTP_KardiQ10_26/4
Hỗ trợ 24/7